Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to © ™ (¯`·.º-:¦:-♥ Vietnam Travel Guide ♥-:¦:-º.·´¯). We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Văn minh lúa nước
Topic Started: Jun 1 2006, 10:00 AM (325 Views)
Administrator Tiamo
Member Avatar
Administrator
Ban Quản Lư
http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_minh...C6%B0%E1%BB%9Bc
canthoteens.com
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
Administrator Tiamo
Member Avatar
Administrator
Ban Quản Lư
Posted Image
canthoteens.com
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
Administrator Tiamo
Member Avatar
Administrator
Ban Quản Lư
Văn minh lúa nước
• Văn minh lúa nước là một nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Nền văn minh này đă đạt đến tŕnh độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công cụ và vật nuôi chuyên dụng. Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đă tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Ḥa B́nh .v.v. Cũng có những ư kiến cho rằng, chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để h́nh thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xă.
Quê hương cây lúa nước
• Các nhà khoa học như A.G. Haudricourt & Louis Hedin (1944), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Carl Sauer (1952), Jacques Barrau (1965, 1974), Soldheim (1969), Chester Gorman (1970)... đă lập luận vững chắc và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm của thế gới[1].
• Quê hương của cây lúa, không như nhiều người tưởng là ở Trung Quốc hay Ấn Độ, là ở vùng Đông Nam Á v́ vùng này khí hậu ẩm và có điều kiện lí tưởng cho phát triển nghề trồng lúa. Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên gần đây, quê hương đầu tiên của cây lúa là vùng Đông Nam Á, những nơi mà dấu ấn của cây lúa đă được ghi nhận là khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên[2]. C̣n ở Trung Quốc, bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử[3]. Từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch[4].
• Ngày nay, giới khoa học quốc tế, kể cả các khoa học gia hàng đầu của Trung Quốc đồng thuận cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa.
Hiểu thế nào là Văn minh lúa nước
• Để khẳng định về các luận điểm cho một nền Văn minh lúa nước, chúng ta phải hiểu rằng việc trồng trọt, thu hoạch, cất giữ, chế biến thành thực phẩm từ sản phẩm của lúa nước là phải đạt đến một tŕnh độ tiên tiến và đảm bảo sự thặng dư thực phẩm phục vụ cho một xă hội dân cư đông đúc và thúc đẩy các yếu tố khác của một nền văn minh ra đời.
Môi trường
• Lượng mua hàng năm ở vào khoảng từ 2.000 - 2.500 mm,
• Vào thời kỳ tăng trưởng cần một lượng mưa vào khoảng 125 mm trong một tháng,
• Thời kỳ thu hoạch cần nhiều nắng (ruộng khô càng tốt),
• Nhiệt độ môi trường thích hợp nhất, khoảng 21 - 27°C,
• Cư dân phải có kinh nghiệm trong việc tưới và tiêu (thủy lợi)
Yếu tố khác
Khu vực canh tác phải có độ bằng phẳng rất cần thiết để duy tŕ mực nước từ 100 mm đến 150 mm để giúp cho cây lúa tăng trưởng và kết hạt tốt.
Chính v́ vậy, những khu vực đồng bằng và các lưu vực các con sông chảy qua các miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thận lợi cho cây lúa nước phát triển. Ví dụ như đồng bằng sông Hồng, lưu vực sông Dương Tử... thích hợp cho cây lúa nước.
Thời vụ là yếu tố cũng quan trọng không kém cho cây lúa nước, điều này thúc đẩy việc sáng chế ra lịch tính ngày, tháng, năm và các mùa trong năm của các cư dân trồng lúa nước.
Giống lúa cũng là một yếu tố tăng năng suất và phẩm chất cho cây lúa nước mà các cư dân trồng lúa nước đặc biệt coi trọng.
Lịch sử phát triển và khảo cổ học
Các cuộc khảo cổ gần đây đă chứng minh sự tồn tại của con người trên lănh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà B́nh - Bắc Sơn (gần 10.000 năm trước CN) đă chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước
Các nhà khảo cổ t́m thấy trong lớp đất bên dưới khu khảo cổ thuộc Văn hóa Ḥa B́nh những hạt thóc hóa thạch khoảng 9260-7620 năm trước. Nhưng theo nhiều nhà khảo cổ, đa số di tích, di vật t́m thấy ở Thái Lan, khi định tuổi lại thấy muộn hơn nhiều so với tuổi định ban đầu trước đó khi người ta t́m thấy những di tích về văn minh lúa nước.
Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa t́m thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này đă biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Điều này đă được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ giàu chất silica) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đă được đăng trên tạp chí khoa học Science, năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths - thạch thể lúa - này đă chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân cổ ở vùng đó đă ăn nhiều gạo của lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đă đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích xưa thứ hai, 9000 năm trước, là Pengtou, gần hồ Động Đ́nh phía nam sông Dương Tử. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đă được t́m thấy ở vùng nam Trường Giang. Gần cửa biển nam Trường Giang, di tích Văn hoá Hemudu (Hà Mỗ Độ) cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến tŕnh độ rất cao vào 7.000 năm trước, sớm hơn cả di tích làng trồng kê Banpo (Bán Pha) xưa nhất của dân tộc Hán phương Bắc.
Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Đường. Dân Hemudu đă trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày 25-50 cm, có nơi dày đến cả mét, trên diện tích 400 mét vuông. Có thể đó là lớp rác để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật củ ấu, củ năng, táo và di cốt động vật hoang hươu, trâu, tê giác, cọp, voi, cá sấu... cho thấy khí hậu vùng Nam sông Dương Tử bấy giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác lúa nước.
Nền văn hoá Hemudu xưa bảy ngàn năm có nhiều điểm gần gũi với văn hoá Phùng Nguyên-Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ hơn nhiều sau hơn 3000 năm. Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Viện Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongoloid, tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông Sơn về sau. Sau văn hoá Hemudu, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đă sinh ra dọc lưu vực sông Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze.
Điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa trồng. Thật là kỳ lạ, người Việt trong cộng đồng chủng Nam Mongoloid là tổ tiên của văn minh lúa nước.
Cải tiến nông cụ - cơ sở tăng năng suất
Trong di chỉ khảo cổ cho ta một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối thời kỳ Đông Sơn đă xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đă chuyển sang các loại vật dụng trang trí và tinh xảo hơn.
Ở giai đoạn đầu, Văn hoá Phùng Nguyên, công cụ bằng đá c̣n chiếm ưu thế, nền kinh tế c̣n mang tính chất nguyên thuỷ. Sang đến giai đoạn Đồng Đậu, G̣ Mun và nhất là Đông Sơn, nhiều loại h́nh công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổng, xẻng, lưỡi ŕu, v.v. Mỗi loại h́nh công cụ sản xuất cũng có các kiểu dáng khác nhau. Trong khoảng 200 chiếc lưỡi cày bằng đồng có tới 4 kiểu dáng, đó là lưỡi cày h́nh tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao; lưỡi cày cánh bầu dục, h́nh thoi được phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lưỡi cày h́nh thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mă, lưỡi cày h́nh xẻng vai ngang phân bố ở vùng làng Vạc. Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc h́nh tam giác, cuốc có vai, cuốc chữ U, cuốc h́nh quạt, v.v. Ŕu có ŕu chữ nhật, ŕu tứ diện lưỡi xoè, ŕu h́nh lưỡi xéo, h́nh bàn chân, ŕu lưỡi lệch. Ngoài ra c̣n có lưỡi liềm đồng, công cụ lao động bằng sắt. Sự tiến bộ của công cụ sản xuất đă thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đạt đến một tŕnh độ khá cao. Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành, nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước chiếm địa vị chủ đạo, phổ biến rộng răi khắp lănh thổ từ trung du đến đồng bằng, ven biển.
Với việc chế tạo ra lưỡi cày và nông nghiệp dùng cày đă thay thế cho nền nông nghiệp dùng cuốc, đánh dấu bước phát triển mới, mạnh mẽ trong nền kinh tế thời Hùng Vương. Với việc ra đời nhiều loại h́nh công cụ sản xuất bằng đồng c̣n chứng tỏ bước tiến về kỹ thuật canh tác của cư dân bấy giờ. Nông nghiệp dùng cày là nguồn cung cấp lương thực chính nuôi sống xă hội, trở thành cơ sở chủ yếu của mọi hoạt động khác.
Những di cốt trâu, ḅ nhà, t́m thấy trong cùng một di tích văn hóa Đông Sơn, h́nh ḅ khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ cư dân thời Hùng Vương đă sử dụng trâu, ḅ làm sức kéo trong nông nghiệp. Những dấu tích thóc, gạo, những công cụ gặt hái t́m thấy ở các di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn. Di tích thóc, gạo t́m thấy ở làng Vạc gồm 2 nồi gốm trong đó có nhiều hạt thóc, vỏ trấu t́m thấy trong thạp đồng. Các công cụ gặt hái có liềm, dao gặt, nhíp. Nhiều thư tịch cổ cũng ghi chép về sự hiện diện của nghề nông trồng lúa nước thời Hùng Vương như các sách Di vật chí của Dương Phù thời Đông Hán, Thuỷ Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên, thời Bắc Nguỵ, Vân đài loại ngữ của Lê Quư Đôn, v.v. chứng tỏ sự phổ biến và phát triển mạnh mẽ của nghề trồng lúa nước thời Hùng Vương.
Thủy lợi- yếu tố nền chính của văn minh lúa nước
Yếu tố nước trong việc trồng lúa nước là điều kiện bắt buộc để h́nh thành Văn minh lúa nước. Có lẽ người nguyên thủy lúc đầu phát hiện ra sự khác nhau về năng suất của lúa nương, một loại lúa mọc trên các triền đất khô ẩm và lúa nước mọc ở khu vực ngập nước của lưu vực các con sông lớn là hoàn toàn khác nhau. Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mă... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ.
Nhưng nước để trồng lúa phải đủ và cũng vừa để cây lúa sinh trưởng. Việc đảm bảo đủ nước và không thừa, để làm ngập úng đă buộc các cư dân trồng lúa nước phải làm thủy lợi - cân bằng lượng nước cần thiết.
Thủy lợi tự nhiên và đơn giản nhất là đắp bờ ruộng và dẫn nước theo các con kênh vào ruộng và khống chế lượng nước bằng độ cao của lối thoát nước. "Con kênh" lớn nhất của cư dân trồng lúa nước chính là hệ thống đê điều hai bên sông lớn để khống chế nước tràn vào ruộng và mùa lũ lụt hàng năm.
Đánh giá
Trong một cuốn sách, Sauer viết như sau: Về cái nôi của nền nông nghiệp đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á. Nơi này quy tụ đầy đủ những điều kiện khác nhau cần thiết về vật lư thể chất, hóa học hữu cơ, khí hậu ôn ḥa với cả hai vụ gió mùa, với chu kỳ mùa mưa ẩm ướt và mùa khô tạnh ráo, sông nước tiện cho viêc đánh cá, đất này là trung tâm điểm giao thương cả đường biển lẫn đường bộ của Cựu thế giới. Không có nơi nào mà vị trí lại thích hợp và có đủ yếu tố cung cấp cho sự phát triển nền văn minh hỗn hợp giữa nông và ngư nghiệp tốt hơn nữa. Tôi (lời Sauer) sẽ chứng minh rằng ở trong vùng đất này, ngay từ khi khởi thuỷ, nông nghiệp đă gắn chặt với ngư nghiệp; rằng ở đây người ta gia súc hóa loài vật trước hết và đúng nghĩa, phải là trung tâm chính của thế giới về kỹ thuật trồng cây và cải biến thảo mộc để gia tăng rau trái. Tôi chấp nhận tiên đề quen thuộc là loài người học hỏi cách trồng cây trước khi biết làm mùa với cách reo hạt giống[6].
Một số nhà khoa học khác không công nhận Đông Nam Á là trung tâm phát sinh nông nghiệp mà chỉ xếp hạng nó vào trung tâm thứ yếu. Một số khá đông các nhà nghiên cứu khác cho rằng Nam Trung Hoa là trung tâm chính yếu phát sinh trồng trọt song song với các trung tâm khác ở Trung Đông và Ấn Độ.
V́ địa thế và khí hậu, cũng như chủng tộc, miền châu thổ sông Hồng cùng nguồn gốc trong tiền sử với Nam Trung Hoa. Việc liên hệ trong vài trăm ki lô mét với một không gian nhỏ, một thời kỳ dài hàng chục ngàn năm là một nguồn văn hóa.
Đến nay, vẫn c̣n có nhiều sự bất đồng trong giới khoa học về các trung tâm sơ khởi nông nghiệp. Tuy vậy, các Ông Burkill và Sauer đều rất tự tin; họ đưa ra các chứng cớ rằng Á Đông chính là nguồn gốc của các thứ khoai, củ. Sau đó theo đường hàng hải, khoai Á Đông đươc phân tán đi các đảo ngoài Thái B́nh Dương, châu Phi và châu Mỹ.
Lúa - Cá: Công thức sản xuất thích hợp cho vùng thường xuyên ngập úng sống chung với lũ


Ngày nay, nói đến lúa - cá là ta h́nh dung đến một kiểu sản xuất nông - ngư kết hợp có hiệu quả mà ít ai biết đến một quá tŕnh trăn trở vật lộn của các nhà khoa học trên con đường t́m kiếm thử nghiệm một mô h́nh sản xuất thích hợp chung sống với lũ cho đồng bào vùng thường xuyên ngập úng.
Hà Trung là một huyện thường xuyên ngập úng của Thanh Hoá. Mặc dù có 20 km đường quốc lộ 1A chạy qua, chỉ cách tỉnh lỵ Thanh Hoá 24 km về phía Bắc, trước năm 1996 cứ có một trận mưa trên 200 mm là quốc lộ 1A qua huyện Hà Trung bị lụt ngập đường, ách tắc giao thông. Khi quốc lộ 1A được nâng cấp, đoạn qua huyện không c̣n bị ngập lụt, nhưng đất Hà Trung th́ vẫn úng, đời sống nhân dân vùng ngập lụt vẫn gặp khó khăn. Trên mảnh đất của ḿnh, Đảng bộ nhân dân Hà Trung đă kiên tŕ t́m kiếm giải pháp để đảm bảo nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, chung sống với lũ.
Đến năm 1997, theo đề nghị của Huyện Hà Trung, Sở KH,CN&MT Thanh Hoá (nay là Sở KH&CN) đă cho thực hiện đề tài khoa học “Thâm canh lúa chét trên đất lúa mùa thường xuyên ngập úng ở huyện Hà Trung”, ứng dụng KTTB đưa các giống lúa mới X20, X21, Xi23 có tiềm năng năng suất, chịu úng vào vùng lũ lụt thường xuyên, để chét sau thu hoạch, ổn định năng suất 19-21tạ/ha/vụ mùa, rút ngắn thời vụ xuống 1 tháng, né tránh lụt, đảm bảo 2 vụ ăn chắc, đưa tổng năng suất lên 50-55 tạ/ha/năm. Đề tài do Kỹ sư trưởng pḥng Nông nghiệp Hà Trung Hoàng Hồng Phượng chủ tŕ, kinh phí từ nguồn sự nghiệp khoa học (SNKH) cấp là 20 triệu đồng. Kết qủa được người dân chú ư nhưng khả năng nhân rộng không nhiều, do chưa hấp dẫn, yếu tố mới chưa đủ vượt trội và tương xứng tiềm năng.
Vùng trũng có đặc thù có lợi cho cải tạo cấy lúa nước, nhưng dễ bị ngập. Khai thác ưu thế nước vùng trũng để phát triển sản xuất như nuôi vịt, thả cá từ xa xưa người Việt đă làm. Vấn đề đặt ra là: Phải giữ những kinh nghiệm truyền thống về cây lúa nước, phải xác định công thức hoá giải cái bất lợi thành cái có lợi. Ngày nay, khoa học đă tiến những bước mới, nhiều nước đă gặt hái được các kết quả đáng kính nể, làm thay đổi nhiều về nhận thức. Thực tế đó đ̣i hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu lựa chọn các thành tựu KH&CN phù hợp ứng dụng vào sản xuất, đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, để chuyển đổi 1200 ha thường xuyên ngập úng vùng chiêm trũng Thanh Hoá, tạo ra sản phẩm hàng hoá tương xứng với tiềm năng sẵn có lại có khả năng thích ứng cao th́ phải có một mô h́nh thử nghiệm với quy mô lớn, đủ sức thuyết phục. V́ vậy, đến năm 1999 Sở KH,CN&MT đề nghị UBND Tỉnh và được đồng ư của Bộ KH,CN&MT, Dự án nông thôn - miền núi cấp nhà nước “Xây dựng mô h́nh lúa - cá để chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng thường xuyên ngập úng huyện Hà Trung Thanh Hoá” đă được tổ chức thực hiện tại huyện Hà Trung với mục tiêu: Xây dựng thành công mô h́nh ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ thích hợp vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đảm bảo thu nhập cho đồng bào vùng thường xuyên ngập úng với thời gian thực hiện dự án 24 tháng, tổng mức kinh phí là 1.233 triệu đồng, trong đó kinh phí SNKH trung ương cấp 510 triệu, SNKH tỉnh 35 triệu, dân góp vốn đối ứng (chủ yếu là công lao động và đầu tư sản xuất thông thường) 688 triệu đồng. Dự án được triển khai ở 2 xă điển h́nh úng lụt thường xuyên của Hà Trung là Hà Tiến, Hà Thanh trên diện tích 40 ha của 145 hộ góp vốn tham gia, hưởng lợi. Đây là vùng thuần nông, có diện tích lúa nước bên các “thùng đào, thúng đấu”, lưu trữ nước quanh năm, dễ úng lụt mất mùa.
Dự án được giao cho Sở KH,CN&MT Thanh Hoá chủ tŕ và đồng chí Giám đốc Sở Nguyễn Văn Tri làm chủ nhiệm. Đồng chí Tri lúc này là Uỷ viên thường vụ tỉnh uỷ, đại biểu Quốc hội nên rất bận đă thành lập Ban thực hiện Dự án do Chủ tịch huyện Hà Trung Nguyễn Quốc Tuấn (và sau này là Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Tuấn) làm Trưởng ban. Các hoạt động triển khai được Ban Dự án phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyển giao công nghệ là Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (NCNTTS I) về nuôi cá trong lúa và Viện Khoa học kĩ thuật nông nghịêp Việt Nam (KHKTNNVN) nghiên cứu trồng lúa để nuôi cá vùng thường xuyên ngập úng. Các cơ quan chuyển giao công nghệ đă cử các chuyên gia giàu kinh nghiệm bám sát cơ sở để chuyển giao công nghệ như TS Đỗ Đoàn Hiệp (Viện NCNTTSI), TS Lê Vĩnh Thảo (Viện KHKTNNVN) và các kỹ sư trong Ban Dự án trực tiếp bám sát cơ sở chỉ đạo. Các cơ quan này đă tiến hành điều tra khảo sát một số yếu tố điều kiện tự nhiên - KT - XH khu vực để đánh giá và quyết định chọn các ứng dụng phù hợp, hiệu quả nhất. Qua điều tra thuỷ lư - thuỷ hoá - thuỷ sinh khu vực cho thấy hệ sinh vật rất phong phú, có đến 32 loài sinh sống phổ biến; độ pH và các chất khoáng cho phép nuôi cá, trồng lúa ở phổ rộng, là nền cơ bản cho thâm canh nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả. Theo kinh nghiệm của các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Philipin, Thái Lan; để nuôi cá trong lúa cần thả ghép các loài mà chúng không hại nhau và khai thác được nguồn thức ăn ở các tầng, các mùa, nhất là sinh vật phù du, rong tảo, thân cây lúa, gốc rạ...
Về lúa, các chuyên gia đă chọn các giống có tiềm năng năng suất, chịu úng chịu thâm canh, chất lượng tốt cơ cấu vào sản xuất, đó là các giống X21, Xi23, BM9962, BM9608, BM9820, BM9825. Về cá, các chuyên gia chọn các giống cá thích ứng thả ruộng, mau lớn, dễ nuôi, phổ thức ăn rộng và chất lượng tốt....
Các chuyên gia đă xây dựng quy tŕnh trồng lúa thả cá cho 2 xă được chọn làm điểm và tổ chức các lớp tập huấn, dạy cho nông dân cách thâm canh lúa, kết hợp nuôi cá, bố trí thời vụ trên cơ sở nghiên cứu quy luật diễn biến khí tương thuỷ văn để né tránh lụt, bón phân cân đối tiết kiệm nhưng hiệu quả; áp dụng pḥng trừ sinh học tổng hợp (IPM) trong trồng lúa để không hại đến cá.
Đồng thời các chuyên gia cũng nghiên cứu xác định cơ cấu giống cá, mật độ, cỡ giống thả phù hợp để phát huy hiệu quả và giảm chi phí đầu vào. Đây là vấn đề quan trọng quyết định đến hiệu quả nuôi mà người dân chưa được biết đến, cần có hướng dẫn và nâng cao nhận thức.
Bước vào triển khai, việc đầu tiên mà Ban dự án phải tính đến là không thể có 145 ao - ruộng cho mỗi hộ, trong khi quyền lợi phải rơ ràng. Việc này do dân bàn bạc quyết định theo nguyên tắc: trồng lúa cứ theo điền hộ đă có, nhưng chăm sóc phải theo quy tŕnh lúa - cá được hướng dẫn. Thả cá do một hộ phụ trách chủ tŕ quản lư thực hiện theo hướng dẫn và quyền lợi được chia theo mức đóng góp công và mức đầu tư. Sau đó các nhà khoa học phải hướng dẫn làm ao, xây dựng các mô h́nh ao - ruộng cụ thể với từng địa h́nh. Để tận dụng các địa thế tự nhiên h́nh thành lâu đời của các “ thùng đào, thúng đấu” là các ao có sẵn trong các ruộng lúa, chân núi, ḷng sông cũ... các chuyên gia đă không câu nệ nhất nhất phải theo các mô h́nh mẫu đă xây dựng kiểu chữ U, I , L, T... Nhưng vẫn chỉ đạo cơ cấu đủ mặt nước nuôi khi cấy lúa phải trên 25% diện tích, đào sâu 0,80 -1,6m để đủ thể khối nước cho cá trú khi chưa phóng lên ruộng. Như vậy mô h́nh đầu tiên không phải là các mô h́nh nhân tạo mà là các mô h́nh ao - ruộng cải tạo từ các ruộng lúa tự nhiên. Việc đào ao kết hợp đắp bờ để giới hạn vùng chăm thả và đề pḥng lũ lụt cũng như giữ nước để có điều kiện th́ chủ động điều tiết nâng cao năng suất nuôi cá.
Mặc dù, một số hộ dân trong vùng đă có sản xuất cá giống nuôi cá bột vào mùa lũ theo kinh nghiệm cổ truyền, nhưng để chủ động số lượng, chất lượng con giống trong nuôi thả cá, các chuyên gia đă hướng dẫn xây dựng các ao ương chọn, ương nuôi sản xuất cá giống tại chỗ. Một số ao ương được xây dựng mới ngay bên cạnh các ao - ruộng để nuôi cá cho đến mức đủ lớn (lớn hơn nhiều so với thả ao chuyên canh) và giữ cá cho đến khi có thể phóng lên ruộng mà không hại đến lúa. Các hộ được hướng dẫn kĩ thuật tiên tiến phù hợp với điều kiện có sẵn để sản xuất giống cá tại chỗ nên chất lượng được nâng lên và giá thành hạ, đặc biệt chủ động về mùa vụ và chất lượng con giống. Khi ao – ruộng xây dựng xong, lúa được cấy, cá được thả các chuyên gia vẫn bám sát chỉ đạo điều chỉnh nước, chăm bón lúa, cho cá ăn bổ sung và pḥng trừ sâu bệnh cho luá, cá, cũng như chuẩn bị sẵn lưới vây, cọc neo đề pḥng lũ tràn về mùa mưa.
Qua 3 năm (2000 - 2002), có những khi Dự án tưởng như đi vào bế tắc: Một số mục đầu tư không phù hợp, một vài địa điểm đă chọn sai, không thực hiện đúng các nội dung đầu tư, thiếu hiệu quả phải điều chỉnh; kinh phí đến muộn, có nơi làm ao đă đến mùa thả cá nhưng đáy nứt nẻ...một số giống lúa đă chọn như các ḍng bố mẹ không phù hợp, giống cá mè hoa nuôi không lớn phải thay bằng giống mè Vinh (Punti) vụ đầu lại không có giống để mua... Dự án đă được thanh tra, phải kéo dài thêm 1 năm để thực hiện các nội dung điều chỉnh nhưng với chỉ đạo của UBND tỉnh, quyết tâm của lănh đạo và nhân dân Hà Trung, sự ủng hộ của Sở KH&CN, cuối cùng Dự án đă đạt được mục tiêu đề ra: Mô h́nh lúa - cá được triển khai trên diện tích 40 ha với 145 hộ nông dân của 2 xă tham gia đă chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo kiểu cũ là sản xuất 2 vụ lúa bấp bênh, năng suất b́nh quân 32 tạ/ha/vụ sang tổ chức sản xuất một vụ lúa chiêm xuân ăn chắc đạt năng suất trên 52 tạ/ha và thả cá vụ mùa đạt năng suất trên 12tạ/ha, nâng giá trị tổng thu nhập trên một đơn vị diện tích tăng hơn 1,75 lần so với trước thực hiện Dự án. Mô h́nh ương cá giống đă xây dựng 1,5 ha ao ương, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sản xuất trên 807 ngàn cá giống, đảm bảo cung cấp giống cá phục vụ mô h́nh và nhân dân trong vùng. Thông qua Dự án, hàng ngàn lượt người dân trong huyện đă được các chuyên gia Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đào tạo tập huấn, trang bị kiến thức khoa học, quy tŕnh kỹ thuật thâm canh lúa - cá, xoá bỏ tập quán sản xuất cũ lạc hậu kém hiệu quả để sản xuất cá giống tốt và nuôi theo quy tŕnh kỹ thuật đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với lối sản xuất cũ. Dự án đă đào tạo được 08 kỹ thuật viên lúa - cá và 08 kỹ thuật viên cá giống làm hạt nhân để ứng dụng KH&CN và triển khai nhân rộng mô h́nh. Nhiều hộ như gia đ́nh thương binh Vũ Đức Phổ, anh Đỗ Văn Quyết tăng thu nhập hàng chục triệu đồng/năm.
Dự án được Hội đồng KH&CN cấp nhà nước tổ chức ngày 16.12.2003 nghiệm thu kết quả xếp loại khá.
Để đạt được kết quả trên, trước hết là do Dự án đă xác định mục tiêu đúng, hợp với ḷng dân: Đưa các thành tựu KH&CN là giống cây con mới phù hợp, tận dụng địa h́nh địa lợi đặc thù, cơ cấu lại giống lúa, bố trí thời vụ né tránh thiên tai, đảm bảo có thu nhập ổn định, ăn chắc trên cơ sở đó phát triển sản xuất vững chắc, nâng cao hiệu quả kinh tế. Do công tác điều tra khảo sát các điều kiện vùng triển khai dự án kỹ, việc xác định mức đầu tư hợp lí, bứơc đi phù hợp nên tổ chức thực hiện thuận lợi. Bên cạnh đó, nhờ xác định công nghệ phù hợp, cơ cấu hợp lư, quy tŕnh hướng dẫn dễ áp dụng, lại tổ chức tập huấn kỹ càng, các hộ nông dân trong Dự án thực hiện tốt các yêu cầu công nghệ nên mô h́nh có sức thuyết phục, được nhân dân tiếp nhận, ứng dụng, phát triển: hiện nay diện tích trên 100 ha vùng thường xuyên ngập úng Hà Trung có điều kiện tương tự đang được khảo sát lập quy hoạch triển khai nhân rộng mô h́nh lúa - cá, hàng ngàn hộ dân ngoài Dự án đă được tập huấn đang tự đầu tư thực hiện các mô h́nh trên mảnh đất của ḿnh.
Thành công của các mô h́nh trong Dự án lúa - cá Hà Trung thực sự là cầu nối giữa nhà khoa học và nhà sản xuất, giữa nghiên cứu và triển khai ứng dụng, huy động được nhiều nhà khoa học đem kết quả đă được khẳng định qua nghiên cứu - triển khai ứng dụng vào sản xuất, biến hộ và nhóm hộ nông dân - nhà sản xuất - thành cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu và là người đầu tư chủ yếu, c̣n Nhà nước chỉ giữ vai tṛ tổ chức, quản lư, hỗ trợ ban đầu, định hướng sự phát triển và các nhà khoa học đă đem kết quả nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm quy mô nhỏ ra sản xuất quy mô lớn.
Những mô h́nh tŕnh diễn của Dự án đă làm thay đổi nhận thức và lề thói sản xuất cũ của người dân, tạo tiền đề, ư thức sản xuất sản phẩm hàng hoá. Nhờ áp dụng các tiến bộ KH&CN, sản lượng lúa vùng Dự án ổn định (một vụ ăn chắc bằng 2 vụ trước đây), năng suất lúa cao hơn 1,7 lần so với trước, góp phần ổn định đời sống. Không chỉ lănh đạo các cấp các ngành mà chính các hộ nông dân đang t́m cách để tiếp cận với các tiến bộ KH&CN, các thành quả để cải tạo, bổ sung, hoàn thiện mô h́nh mới có hiệu quả cao hơn, đảm bảo phát triển bền vững. Với đầu tư không lớn trên quy mô hàng chục hecta với hàng trăm hộ tham gia, qua thực tế dự án lúa - cá là công thức sản xuất thích hợp cho vùng thường xuyên ngập úng sống chung với lũ.
Đến nay, không chỉ ở Hà Trung mà ở một số địa phương khác như Vĩnh Lộc, Nông Cống, Cẩm Thuỷ, Quảng Xương... cũng có nhiều vùng thường xuyên ngập úng, đă triển khai ứng dụng mô h́nh lúa - cá, sản xuất lúa ăn chắc kết hợp thả cá nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Dựa trên kết quả này UBND tỉnh đă có chính sách phát triển nhân rộng mô h́nh bằng 14 dự án đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng cho hệ thống cấp nước đến các vùng có triển vọng nuôi cá, áp dụng công thức này để sống chung với lũ và trên cơ sở đó đầu tư thâm canh tạo thành vùng nuôi thuỷ sản nước ngọt tập trung cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
canthoteens.com
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
Administrator Tiamo
Member Avatar
Administrator
Ban Quản Lư
Nghề trồng lúa ở Việt Nam
Có thể khẳng định ngay rằng Việt Nam không chỉ là một quốc gia nông nghiệp trồng lúa, lúa nuôi sống người Việt và cũng cho người Việt một tài sản không thể phủ nhận, đó chính là một nền văn hoá lúa trên cơ sở của một xă hội lúa.
Hoạt động chăm sóc cây lúa qua nhiều thế hệ và tại nhiều địa vực đă tạo ra sự phong phú cho người Việt không chỉ qua những h́nh thức canh tác, ở đó người ta c̣n có thể nhận thấy một hệ thống giá trị văn hoá phi vật thể được h́nh thành. Nền văn hoá ấy được h́nh thành trên nền tảng của hoạt động trồng lúa trải qua một thời gian dài.

Quá tŕnh làm ra hạt gạo với nhiều công đoạn đă dần giúp cho cư dân Việt có được một phép ứng xử tương đối hoà nhă với thiên nhiên. ở vùng nông thôn Việt Nam, những khu chợ cũng có những nét tương đồng trên khắp cả nước, đó là dựa theo mùa màng nông nghiệp mà ở đây cụ thể là hoạt động trồng lúa. Chợ ở Việt Nam thường họp vào những ngày nông nhàn, bởi những ngày vào vụ th́ cư dân đều ở ngoài đồng. Đó chỉ là một trong những thể hiện cụ thể của sự ảnh hưởng đến nhịp sinh hoạt cư dân từ hoạt động làm lúa. Sự ảnh hưởng đó được gọi là quá tŕnh tác động đến văn hoá của hoạt động sản xuất ra của cải trong một xă hội. Diện mạo văn hoá của Việt Nam nhận được sự tác động rơ rệt từ những hoạt động sản xuất ra hạt lúa, và các lĩnh vực khác trong xă hội cũng như vậy. Vậy sự chi phối của nghề lúa đó diễn ra theo những nấc thang nào? Quá tŕnh phát triển của nông nghiệp được bắt nguồn ngay từ những hoạt động săn bắt hái lượm của người xưa. Khi ấy những hoạt động kiếm ra lương thực nuôi cuộc sống vẫn đơn giản là t́m lấy những ǵ có thể ăn được có sẵn trong tự nhiên. Những con vật nhỏ hay lũ côn trùng trở thành thức ăn thường xuyên của người Việt cổ. Cùng với đó, người ta cũng sử dụng cả những loài thực vật có sẵn xung quanh để làm thức ăn. Bước tiếp theo là chăm hái, khi ấy người ta t́m đến những nơi có mọc tập trung những cây cho quả ăn được. Giai đoạn này vẫn chỉ là khai thác đơn thuần, song sự khai thác có kế hoạch hơn và cũng chú ư tới quá tŕnh tái tạo hơn so với thời gian trước. Nhưng mọi chuyện vẫn diễn ra một chiều và thụ động.

Quá tŕnh phát triển tiếp theo đă có sự tập trung những cây lương thực về một nơi, có tác động của loài người và có dấu hiệu của sự thuần hoá những thực vật hoang. Giai đoạn canh tác được coi là sự phát triển tới mức độ cao nhất của hoạt động nông nghiệp. Giống cây hoàn toàn được thuần dưỡng và dụng cụ lao động đă hoàn thiện. Vậy ở nấc thang đầu tiên, các cư dân Việt cổ đă trải qua một cuộc sống như thế nào? ở một môi trường rất thuận lợi cho sự sinh tồn của các loài thực vật, các cư dân Việt cổ được sở hữu một hệ thống cây trồng rất phong phú, nó đă góp phần nuôi sống họ qua những giai đoạn của đời sống, và cũng v́ hoạt động khai thác những sản phẩm ấy mà cư dân Việt cổ đă h́nh thành cho ḿnh một cách nh́n tự nhiên qua lăng kính của việc khai thác thực vật, cũng do đó mà cách ứng xử của họ được soi xét từ lăng kính ấy, dần dần trở thành tính cách và sau này là cơ sở cho nền văn hoá. Những vỏ ốc và vỏ động vật nhuyễn thể được t́m thấy vào thời kỳ tiền sử ở Việt Nam đă chứng tỏ rằng bên cạnh việc ăn thực vật th́ phần lớn người Việt cổ khai thác những động vật nhuyễn thể. Có thể nói, trước khi t́m ra hạt lúa hoang th́ loài nhuyễn thể chính là nguồn thức ăn phổ biến của cư dân Việt cổ. Quá tŕnh sử dụng loài này làm thức ăn cũng tạo ra cho họ một nền tảng quan niệm nhất định về dinh dưỡng trước khi t́m thấy hạt lúa. Cùng với thời gian đó, những hiện vật khác cho hoạt động ăn uống của người Việt cổ cũng được t́m thấy khá nhiều, song hạt thóc th́ không có nhiều như vậy, điều đó có thể khẳng định tuy hạt thóc đă t́m thấy nhưng vẫn chưa phải là thứ thức ăn phổ biến như thời gian về sau. Song sự xuất hiện nhiều hơn những hạt dẻ h́nh óc chó hay những loại hạt khác đă cho thấy một bước tiến quan trọng hơn trong quá tŕnh phát triển nguồn thức ăn của người Việt cổ.

Những bước tiến nhất định ấy đă thúc đẩy sự sáng tạo của loài người trong việc phục vụ hoạt động khai thác thức ăn cũng như chế biến. Những dụng cụ bằng đá được chế tạo ra theo dạng bàn nghiền, loại dụng cụ này giúp cho người cổ nghiền hoàng thổ hoặc sát các loại hạt để thuận lợi hơn cho việc sử dụng. Tuy nhiên thức ăn phổ biến thời đó vẫn là các loại nhuyễn thể.

Quay trở lại với không gian tiền sử, khi hoạt động con người vẫn c̣n sơ khai, tại hang Xóm Trại - một địa điểm khai quật được những dấu hiệu sớm nhất của hạt lúa ở Việt Nam, không gian của hang hầu như c̣n giữ được nguyên vẹn, đây được coi là một trong những hang có điều kiện tốt nhất cho cuộc sống của người Việt cổ. Trên nền của hang là một lớp vỏ ốc, lớp vỏ ốc này ước chừng có độ dày 1 mét, chứng tỏ qúa tŕnh cư trú ở đây đă có một lịch sử ở và di chuyển lâu dài. Giờ đây, địa vực của hang là nơi canh tác lúa rất tốt, ở thời tiền sử th́ các loại thực vật nhiều, song sự xuất hiện lúa hoang không phổ biến. Ngoài ra, người ta cũng t́m thấy những chiếc bàn nghiền bằng đá, sự xuất hiện của chúng được giải thích bằng nhiều lư do, có ư kiến là nó được dùng để nghiền hoàng thổ, nhưng phát hiện về sau cho thấy có dấu vết của hạt thóc. Những chiếc bàn nghiền với nhiều h́nh dáng được hoàn thiện qua thời gian hoặc qua sự thay đổi của đồ vật được nghiền. Thời gian dầu, những chiếc bàn nghiền đơn giản được sử dụng chỉ để nghiền hoàng thổ để bôi lên người nhằm chống rét hay bệnh tật. Thời gian về sau, tác dụng của những bàn nghiền đă được nâng lên rất nhiều, họ đă biết sử dụng để nghiền những hạt lương thực khác hay chính những hạt thóc hoang được thu hoạch cùng với những loại thực vật khác. Ngay cả vào thời kỳ này, việc t́m ra hạt thóc cũng chỉ là vô t́nh, nguồn thức ăn từ thực vật lúc bấy giờ vô cùng phong phú, người ta có thể thu hoạch bất kể thứ ǵ có thể ăn được. Các cư dân cổ sử dụng tất cả những nguồn thức ăn ấy. Quá tŕnh định cư rồi di chuyển đó phụ thuộc vào nguồn thức ăn có sẵn, họ cư trú và khai thác nguồn thức ăn cho tới khi cạn kiệt th́ chuyển đi nơi khác.

Tại địa vực mới mọi việc diễn ra cũng như vậy, khi ở đó nguồn thức ăn không c̣n đáp ứng được nữa th́ lại chuyển đi, và như thế đôi khi họ đă quay trở lại chính nơi trước đây đă từng cư trú. Quá tŕnh đó dần nhanh hơn đă tạo ra sự thay đổi dễ nhận thấy qua những hiện vật khảo cổ. Thời gian về sau, sản phẩm thực vật khai thác được đă phong phú hơn trước rất nhiều, có cả những loại hạt khác bên cạnh cả những dấu vết xương thú. Có thể nguồn thực vật không nhiều nữa nhưng cũng rất có thể là cư dân cổ đă có thay đổi trong quan niệm về thức ăn. Cùng với sự phong phú trong việc t́m thức ăn so với trước, nền sản xuất lúa của người cổ Việt Nam lại có thêm một cơ sở cho sự phát triển nữa, đó là việc tạo ra những công cụ sản xuất bằng đá. Nguyên nhân đầu tiên của việc tạo ra những dụng cụ đá ấy là do nhu cầu khai thác tốt hơn những cây lương thực, hay dùng để chế biến nhanh hơn những động vật nhuyễn thể. Các dụng cụ bằng đá ngày càng nhiều hơn trước, sự sáng tạo ra các dụng cụ khai thác và chế biến bằng đá cũng tác động ngược trở lại hoạt động kiếm ăn của cư dân Hoà B́nh thời kỳ đó. Cùng với thời gian, những nguồn thức ăn không c̣n được phong phú như trước, do vậy nhu cầu cần t́m một loại thức ăn khác bắt đầu được các cư dân Hoà B́nh để ư tới nhiều hơn. Nguồn thức ăn từ ḷng suối không c̣n chỉ là những động vật nhuyễn thể dễ dàng khai thác và sử dụng, mà các loại sản phẩm khác đă được t́m ṭi nhiều hơn. Và khi ḷng suối không c̣n là nơi hấp dẫn nữa th́ họ bắt đầu hướng sự t́m ṭi của ḿnh lên bờ, nơi có rất nhiều chủng loại thực vật sinh sống. Và từ đó những hạt gạo trước đây do t́nh cờ t́m thấy lẫn vào những loại hạt ăn được khác th́ giờ được họ chủ động t́m đến, và nền tảng của nghề lúa Việt Nam đă được h́nh thành dù sơ khai. Dấu tích của những hạt thóc thời kỳ này đă rơ rệt hơn trước, tác dụng của bàn nghiền giờ chỉ phục vụ việc nghiền hạt thóc. Với hoạt động sản xuất lúa, tính phức tạp trong các động tác cũng như những dụng cụ phát triển hơn trước rất nhiều. Những công cụ cũng phong phú hơn để đáp ứng yêu cầu lao động. Sự phát triển của các dụng cụ bằng đá nhằm phục vụ công đoạn khai thác lúa cùng với việc chế biến thức ăn có sự tham gia của lửa đă đẩy nhanh quá tŕnh phát triển tư duy loài người, phương thức sống cư tụ đă có dấu hiệu xuất hiện trong thời gian này. Với những hốc hang tự nhiên vốn có, các bếp ăn của cư dân Hoà B́nh lúc này đă có sự thay đổi nhiều về chất lượng. Hạt lúa lúc này đă tham gia nhiều hơn vào bữa ăn của các cư dân cổ. Theo những kết quả khảo cổ, số lượng thóc t́m thấy thời kỳ này đă tăng hơn trước rất nhiều. Hạt gạo ở đây cũng đă có dấu hiệu được thuần dưỡng, hay đúng hơn là tính hoang không c̣n nhiều. Giờ đây, khi lúa gạo đă là một nguồn lương thực chính của người Việt, toàn bộ khu vực hang xóm Trại đă trở thành một cánh đồng màu mỡ. Với điều kiện tự nhiên phù hợp, hang xóm Trại là nơi cư trú lư tưởng cho một bộ phận cư dân người Việt cổ. Đây không chỉ là nơi cư trú của họ, mà c̣n chứa ẩn những ẩn số của một thời kỳ bắt đầu sự h́nh thành nên nghề lúa dù c̣n sơ khai ở Việt Nam. Sự phát triển của các công cụ sản xuất lúa, hay những dấu tích của hạt thóc nơi này đă nói lên nhiều điều. Từ những cơ sở ban đầu ấy, qua nhiều thế hệ cùng thời gian phát triển, cho tới ngày nay, nghề lúa ở Việt Nam đă tạo ra vô số hệ quả văn hoá từ qúa tŕnh tồn tại. Chính bản thân hoạt động này cũng làm nên một thuật ngữ đó là văn hoá lúa, một nền văn hoá tiêu biểu của dân tộc Việt.

Những thay đổi của hoạt động tạo ra hạt lúa qua từng thời kỳ đă góp phần làm nên diện mạo mới cho xă hội lúa ở Việt Nam, song tất cả đều được h́nh thành trên nền tảng của thế giới quan nông nghiệp đă có từ xa xưa, từ bước đi đầu tiên của việc t́m ra hạt lúa.
canthoteens.com
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Hỏi/Đáp Du lịch · Next Topic »
Add Reply