| Welcome to © ™ (¯`·.º-:¦:-♥ Vietnam Travel Guide ♥-:¦:-º.·´¯). We hope you enjoy your visit. You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free. Join our community! If you're already a member please log in to your account to access all of our features: |
| Cây Cà phê | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: May 28 2006, 11:40 AM (712 Views) | |
Tiamo
|
May 28 2006, 11:40 AM Post #1 |
![]()
Administrator
![]()
|
Vào đây coi nhé! http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_c%C3%A0_ph%C3%AA |
| canthoteens.com | |
![]() |
|
Tiamo
|
May 29 2006, 12:35 PM Post #2 |
![]()
Administrator
![]()
|
Cà phê espresso Tách cà phê espressso, màu nâu đen có váng bọt ở trên. Cà phê espresso được pha chế bằng cách dùng nước nóng nén dưới áp suất cao (khoảng 9 đến 10 bar) qua bột cà phê được xay rất nhuyễn. Pha chế bằng phương pháp này cà phê sẽ rất đậm và trên mặt có một lớp bọt màu nâu (crema) đóng phần quan trọng trong việc tạo hương thơm cho cà phê. Cà phê espresso thường được uống bằng tách dầy có hâm nóng trước, dung tích vào khoảng 40 ml và có hoặc không pha đường tùy theo khẩu vị. Cà phê espresso thường được phục vụ kèm theo một ly nước. Cà phê espresso là loại cà phê thường được uống ở Ư và Tây Ban Nha, là những nơi mà người ta gọi nó đơn giản là cà phê. Cà phê espresso có nguồn gốc ở Ư, nơi xuất hiện cách pha cà phê này vào khoảng năm 1930. Espresso bắt nguồn từ tiếng Ư espressivo, từ diễn tả một thức ăn uống được pha chế đặc biệt dành cho thực khách, bắt nguồn từ lúc đầu tiên khi chỉ có cà phê espresso trong các quán bar. Nguyên liệu Nguyên liệu pha cà phê espresso vẫn là các hạt cà phê dùng cho các loại cà phê khác nhưng hạt cà phê thường được rang sẫm màu hơn. Điều này rất cần thiết v́ qua cách pha dưới áp suất, axít tự nhiên của hạt cà phê bị ḥa tan nhanh hơn các phương pháp pha chế thông thường rất nhiều. Cà phê espresso pha từ hạt cà phê thường v́ thế sẽ có vị chua khó chịu. V́ hàm lượng axít giảm đi khi rang hạt cà phê nên người ta chống lại hiện tượng này bằng cách rang lâu hơn. Một yếu điểm khi rang lâu là sẽ làm giảm đi hương thơm của cà phê. Nghệ thuật rang cà phê v́ thế chính là ở chỗ t́m được sự cân bằng giữa hàm lượng axít và hương thơm cho mỗi loại hạt cà phê hay từng loại pha trộn các hạt cà phê. Khi rang cà phê sẫm màu như vậy hạt cà phê mất đi hàm lượng caffeine nhưng do có vị đậm đà nên cà phê espresso thường lại được cho là một loại cà phê đậm. Thường loại cà phê Arabica (Coffea arabica) có chất lượng cao được dùng làm cà phê espresso. Để cà phê espresso có crema nhiều và đặc hơn người ta pha trộn hạt cà phê Arabia với Robusta (Coffea canephora), loại này không có được hương thơm và vị đậm đà như Arabica. Những người trong giới sành điệu vẫn căi nhau sôi nổi là 100% Arabica hay phương thức pha trộn 60% Arabica và 40% Robusta sẽ mang lại một ly cà phê espresso hoàn hảo. Cách pha Kỹ thuật Ấm pha cà phê do Bialetti thiết kế Có thể dùng ấm pha cà phê espresso để pha loại cà phê này. Thuộc vào trong số các ấm pha cà phê espresso cổ điển là kiểu "Moka Express" do Alfonso Bialetti thiết kế năm 1933, loại vẫn c̣n được dùng trong nhiều gia đ́nh trên toàn thế giới ở h́nh dáng nguyên thủy của nó. V́ ở loại ấm này c̣n xa mới đạt đến áp suất 8 bar (nhiều nhất chỉ có thể là 1,5 bar) nên chính xác mà nói th́ đây không phải là cà phê espresso. Để pha cà phê espresso ngon và có nhiều crema phải cần dùng đến một máy pha cà phê espresso. Trong máy này nước nóng 88 °C đến 94 °C được ép với áp suất ban đầu vào khoảng 9 bar qua bột cà phê được xay rất nhuyễn. Thời gian chảy qua phải là 25 giây. Nếu lượng nước phù hợp chảy qua nhanh hơn các hương vị không được ḥa tan hết, nước chảy qua lớp bột cà phê quá chậm sẽ có quá nhiều chất đắng ḥa tan theo. Định lượng Máy pha cà phê espresso Viện quốc gia về cà phê espresso của Ư đưa ra các tiêu chuẩn sau đây: • Lượng cà phê cần dùng: 7 g ± 0,5 g • Nhiệt độ nước lúc chảy ra khỏi máy: 88°C ± 2°C • Nhiệt độ cà phê trong tách: 67°C ± 3°C • Thời gian chảy qua: 25 giây ± 2,5 giây • Độ nhớt ở 45°C: 1,5 mPa s • Lượng mỡ tổng cộng: > 2 mg/ml • Hàm lượng caffeine: 40mg/tách • Dung tích trong tách (bao gồm crema): 25 ml ± 2,5 ml. Các cách uống Ở nước Ư • Espresso macchiato (cũng gọi là caffè macchiato): Ở Ư người ta hay rót một ít sữa vào cà phê espresso. Ngoài ra loại cà phê espresso "có đốm" này (machiato: có đốm, lốm đốm) thường được thêm một ít sữa được sủi bọt. • Cappuccino: Cà phê cappuccino bao gồm ba phần đều nhau: bọt sữa, cà phê espresso và sữa nóng. • Espresso corretto (cũng gọi là caffè corretto): Cà phê espresso thường được "sửa chữa lại cho đúng" (corretto: sửa chữa lại cho đúng) bằng cách cho thêm một ít rượu mạnh, thường là loại Grappa của Ư. • Caffè latte: Loại cà phê sữa này (latte: sữa) thường được uống vào lúc ăn sáng, được phục vụ trong một ly lớn hay trong một cái bát gồm cà phê espresso (lượng gấp đôi) và sữa nóng. Rất ít khi dùng sữa sủi bọt kèm theo. • Espresso lungo: Cà phê espresso được "kéo dài" ra (lungo: dài, kéo dài) với lượng nước gấp đôi cho cùng một lượng bột cà phê. • Espresso ristretto: Ngược lại là cà phê espresso đậm đặc, pha chế với lượng nước ít hơn (15 ml). • Latte macchiato: Loại cà phê sữa uống bằng ly. • Caffè americano: Cà phê espresso được pha loăng với cùng một lượng nước hay gấp đôi. (Chú ư: Không phải là cho gấp đôi lượng nước chảy qua bột cà phê). • Caffè freddo: Cà phê espresso "kéo dài" được pha rất ngọt và ướp lạnh, thường chỉ có vào các tháng mùa hè trong các quán bar ở Ư. • Espresso doppio: Cà phê espresso gấp đôi tức là 50 ml (doppio: gấp đôi). • Sospenso: (tiếng Ư: tạm hoăn lại) Cà phê có mục đích từ thiện. C'e un Sospenso? Câu hỏi này được nghe thấy hằng ngày trong các quán cà phê tại thành phố Napoli, xuất phát từ truyền thống giúp đỡ nhau lâu đời tại thành phố này. Nguyên tắc: Khi cảm thấy đây là một ngày tốt đẹp với ḿnh hay vừa có một giao dịch thuận lợi hoặc đơn giản là chỉ muốn góp phần vào cho xă hội người ta gọi một sospenso, tức là uống một tách cà phê espresso và trả tiền cho 2 tách. Khi có người khác đi ngang qua mà không có khả năng trả tiền cho một ly cà phê espresso, họ sẽ hỏi đến cà phê "tạm hoăn lại". Ở Tây Ban Nha • Café solo: Tên gọi cà phê espresso thông thường. • Café cortado: Trong cách uống ở Tây Ban Nha này cà phê espresso cũng có một ít sữa nhưng nhiều hơn espresso macchiato, thường được phục vụ trong ly khoảng 60 ml và có sữa sủi bọt. Thế nhưng cũng có rất nhiều biến đổi ở các địa phương khác nhau thí dụ như uống trong tách hay pha thêm sữa đặc. • Café con leche: Nhiều sữa hơn café cortado (con leche: với sữa). • Carajillo: Thời trước người công nhân Tây Ban Nha có truyền thống uống cà phê espresso với rượu mùi (liqueur) vào buổi sáng trước khi đi làm. Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A0_ph%C3%AA_espresso” Cây cà phê Cây cà phê chè (Coffea arabica) ở Brasil. Phân loại khoa học Giới (Kingdom): Plantae Ngành (Division): Magnoliophyta Lớp (Class): Magnoliopsida Bộ (Ordo): Gentianales Họ (Familia): Rubiaceae Chi (Genus): Coffea L. Loài Coffea arabica - Cà phê chè (Arabica) Coffea benghalensis - Cà phê Bengal Coffea canephora - cà phê vối (Robusta) Coffea congensis - cà phê Congo Coffea excelsa - cà phê Liberia/cà phê mít Coffea gallienii - caffein tự do Coffea bonnieri - caffein tự do Coffea mogeneti - caffein tự do Coffea liberica - cà phê Liberia/cà phê mít Coffea stenophylla - cà phê Sierra Leon Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiên thảo (Rubiaceae). Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới. Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Chỉ có hai loài cà phê có ư nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: Coffea arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra c̣n có Coffea liberica và Coffea excelsa (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với sản lượng không đáng kể. Đặc trưng Cây Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2-4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, h́nh oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4-6 cm. Rễ cây cà phê là loại dễ cọc, cắm sâu vào ḷng đất từ 1 đến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Hoa Hoa cà phê Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường mọc thành chùm đôi hoặc chùm ba. Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài. Hoa chỉ nở trong ṿng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa. Ngay từ khi cây cà phê ra hoa kết quả người ta đă có những đánh giá đầu tiên về vụ mùa cà phê. Ở các nước sản xuất cà phê lớn điều này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra những nhận định về giá cả và thị trường. Tuy vậy những đợt rét đậm hoặc hạn hán có thể làm đảo lộn mọi sự tính toán và đẩy thị trường vào t́nh thế hoàn toàn khác. Quả Cà phê là loài cây tự thụ phấn, do đó gió và côn trùng có ảnh hưởng lớn tới quá tŕnh sinh sản của cây. Sau khi thụ phấn từ 7 đến 9 tháng cây sẽ cho quả h́nh bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào. Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả có màu đen khi đă chín nẫu. Do thời gian đâm hoa kết trái lâu như vậy mà một vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả. Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt. Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài. Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau. Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài có h́nh ṿng cung. Mỗi hạt c̣n được bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài. Hạt có thể có h́nh tṛn hoặc dài, lúc c̣n tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh. Thỉnh thoảng cũng gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dính lại thành một). Niên vụ (năm sản xuất) Ở Việt Nam, nước hiện chiềm vị trí đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê vối robusta, niên vụ được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau (theo dương lịch). Thời gian thu hoạch tại các tỉnh Tây Nguyên -- là nơi sản xuất khoảng 80 % tổng sản lượng của Việt Nam -- thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hết tháng 1. Ngay sau thu hoạch là thời gian nông dân trồng cà phê vối bắt đầu tưới nước cho cây và bón phân, chia thành nhiều đợt ngắn. Giai đoạn này kéo dài đến tháng 4 hàng năm. Cà phê Trung Nguyên với giấc mơ toàn cầu Ra đời và hoạt động chưa đầy 9 năm, Công ty Cà phê Trung Nguyên với sản phẩm cà phê thương hiệu Trung Nguyên đă chinh phục được đông đảo người tiêu dùng trong nước và thế giới. Giáo sư Tim Larimer ở Trường Đại học Columbia (Mỹ) đă ví Trung Nguyên như một Starbucks ở Việt Nam. Nhưng Starbucks phải mất 15 năm mới chiếm lĩnh được thị trường trong nước và vươn ra thế giới. Trung Nguyên, một trong những doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên xuất khẩu thương hiệu ra nước ngoài. Với hơn 500 nhà phân phối lớn trải khắp đất nước và hợp đồng kinh doanh chuyển nhượng quyền tại 10 nước trên thế giới, trong đó có những thị trường quan trọng như Mỹ, Canada, Pháp, Nauy, Nhật, Singapore, gần đây là Nga và Trung Quốc, Trung Nguyên đạt tốc độ tăng trưởng b́nh quân 20-30%/năm. Doanh thu năm 2003 là 70 tỉ đồng, 2004 dự kiến đạt 100 tỉ đồng và năm 2005 dự kiến là 150 tỷ đồng... Với G7, cà phê Trung Nguyên đang vươn tới ước mơ toàn cầu. Tới Buôn Ma Thuột vào một ngày cuối năm, trời se lạnh, tôi không được gặp Đặng Lê Nguyên Vũ- vị giám đốc trẻ tài danh của Công ty cà phê Trung Nguyên, bởi ông mải bôn ba với bạn hàng. Bên ly “cà phê Ban mê” nồng đượm, câu chuyện giữa chúng tôi với ông Nguyễn Ngọc B́nh, trợ lư Giám đốc thân t́nh và cởi mở. Vài năm nay, cà phê liên tiếp rớt giá, liệu cà phê Trung Nguyên có chịu ảnh hưởng? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Đặc điểm chung của mặt hàng cà phê rang xay thường giá ổn định hoặc tăng lên chứ không bị rớt giá như các loại cà phê nhân. Đó chính là ưu điểm của việc chế biến và kinh doanh cà phê rang xay ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới. Yếu tố ǵ khiến thương hiệu cà phê Trung Nguyên nhanh chóng chiếm được cảm t́nh của người tiêu dùng? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Trước hết phải kể tới chất lượng sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và luôn ổn định. Nhưng để thành công trên thương trường c̣n phải thêm hai yếu tố nữa là việc xây dựng thương hiệu, quảng bá, bảo vệ thương hiệu và tổ chức hệ thống phân phối tốt. Để bảo vệ thương hiệu của ḿnh, Trung Nguyên tiến hành đăng kư thương hiệu ở các thị trường hiện có và thị trường tiềm năng; đẩy mạnh công tác kinh doanh, nhượng quyền Việt Nam. Tại tỉnh Đắc Lắc, Công ty tài trợ cho dự án xây dựng thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột và sắp tới là thương hiệu ḅ Ma Đrắc. Việc kiểm soát chất lượng sản phẩm tại các đại lư, Công ty quan tâm ra sao? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Trong việc kinh doanh nhượng quyền, khó khăn nhất là việc kiểm soát chất lượng sản phẩm của ḿnh tại “chuỗi” các cửa hàng. Chúng tôi đang tiến hành chuẩn hóa hệ thống phân phối để trong tương lai, tất cả các cửa hàng cà phê Trung Nguyên trong nước hoàn toàn đồng nhất từ h́nh thức trang trí đến chất lượng ly cà phê, chất lượng phục vụ. Công ty c̣n có chính sách kinh doanh mới để khuyến khích hệ thống bán hàng chấp hành tốt các quy định về giá, chất lượng mặt hàng và phong cách phục vụ. Nguyên liệu đầu vào rất quan trọng để cà phê Trung Nguyên có chất lượng cao và ổn định? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Đúng là muốn có sản phẩm tốt, nguyên liệu đầu vào phải được quan tâm đặc biệt. Trung Nguyên đăng kư với các hộ nông dân thường xuyên cung cấp cà phê, thực hiện chương tŕnh sản xuất cà phê đảm bảo các yêu cầu: truy nguyên nguồn gốc sản phẩm, an toàn thực phẩm cũng như vấn đề thân thiện đối với môi trường. Giấy chứng nhận thực hiện chương tŕnh này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty thâm nhập vào các thị trường cà phê truyền thống như châu Âu. Để các hộ nông dân tin tưởng, cung cấp nguyên liệu đúng yêu cầu, Công ty có biện pháp ǵ? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Chúng tôi kư kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho những hộ nông dân thực hiện chương tŕnh cung cấp nguyên liệu đầu vào tốt, trả cho họ giá ưu đăi cao hơn giá thị trường. Hiện tại Đắc Lắc có khoảng 20 nhóm hộ đăng kư thực hiện chương tŕnh nguyên liệu đầu vào tốt. Các ḍng sản phẩm cà phê Trung Nguyên có nhiều không? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Công ty có một số ḍng sản phẩm chính. Đó là cà phê bột gồm các sản phẩm cà phê mang tên từ Sáng tạo 1 đến Sáng tạo 4. Có loại mang tên Cảm xúc và Huyền thoại. Ḍng sản phẩm thứ hai là cà phê bột được đặt số từ H1 đến H9. Ngoài ra, để đa dạng hóa sản phẩm, chúng tôi c̣n có cà phê túi lọc, cà phê ḥa tan G7 và ḍng sản phẩm khác là trà với sản phẩm: Vọng nguyệt trà, Tịnh tâm trà và Trà buồm. Nghe tên đă thấy hấp dẫn! Với Sáng tạo, Cảm xúc, Huyền thoại... Trung Nguyên gửi tới người thưởng thức cà phê ư tưởng ǵ? Ông Nguyễn Ngọc B́nh (cười): Chúng tôi cho rằng, người tiêu dùng không chỉ đơn thuần thưởng thức ly cà phê mà xung quanh nó, c̣n có một chút ǵ đó lăng mạn nữa. Với Sáng tạo, Cà phê Trung Nguyên muốn đem đến cho khách hàng những ly cà phê truyền thống với hương vị tuyệt vời để làm nguồn cảm hứng sáng tạo. C̣n với Cảm xúc và Huyền thoại, Trung Nguyên muốn đi sâu vào tâm tưởng, những mong đợi trong tâm hồn sâu kín của khách hàng, muốn cùng họ chia sẻ những trăn trở cùng những cảm xúc sáng tạo. Với G7, Cà phê Trung Nguyên thể hiện ước vọng vươn tới toàn cầu... Dự án phát triển của Công ty để tiếp tục lớn mạnh và biến ước mơ vươn tới toàn cầu thành hiện thực? Ông Nguyễn Ngọc B́nh: Công ty đang xây dựng một nhà máy chế biến cà phê tại Khu Tiểu thủ công nghiệp thành phố Buôn Ma Thuột. Trong năm 2005, sẽ xây dựng thêm nhà máy chế biến cà phê ḥa tan tại B́nh Dương. Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng tôi c̣n xây dựng một trang trại chăn nuôi gia súc tại huyện Ma Đrắc (Đắc Lắc) và đưa Trung tâm du lịch tại tỉnh Lâm Đồng vào hoạt động. Mong sao những ư tưởng của Trung Nguyên trong ly cà phê được người tiêu dùng cảm nhận và thích thú, và thương hiệu Cà phê Trung Nguyên ngày càng bay xa, hội nhập - phát triển bền vững. http://irv.moi.gov.vn/KH-CN/tintucthoisucs...5/12/15026.ttvn Trung Nguyên: Lời cảnh báo từ một thương hiệu nổi tiếng Có thể nói, cà phê Trung Nguyên là một thành công kỳ diệu của xây dựng thương hiệu tại Việt Nam. Chỉ trong ṿng 5 năm, từ một xưởng sản xuất nhỏ tại Buôn Ma Thuột, Trung Nguyên đă có mặt tại mọi miền đất nước. Chiến lược nhượng quyền thương hiệu (franchising) đă chứng tỏ uy lực khi hàng loạt quán cà phê với biển hiệu “Trung Nguyên” mọc lên như nấm ở khắp nơi. Chỉ riêng tại “thánh địa” TPHCM, hiện nay đă có hàng trăm quán. Và slogan “Khơi nguồn sáng tạo” đă trở nên quen thuộc không chỉ với những người làm trong các lĩnh vực liên quan đến sáng tạo. Song tất cả những điều đó dường như đang dần trở thành quá khứ. Nếu t́nh h́nh không được cải thiện một cách tích cực, có thể cũng chỉ trong ṿng 5 năm nữa, cái tên “Trung Nguyên” sẽ chỉ c̣n là một ví dụ ngọt ngào (và cay đắng) trong các bài giảng về quản lư thương hiệu. Và điều này là hoàn toàn có cơ sở. Thứ nhất, trong thành công của thương hiệu “Trung Nguyên”, công tác quan hệ công chúng (PR - Public Relations) đóng vai tṛ quyết định. Trong những năm đầu thành lập, có rất nhiều bài viết, phóng sự... về “hiện tượng cà phê” này và hầu như 100% các bài viết đều mang nội dung tích cực. Có thể nói, chính PR đă tạo nên cơn sốt Trung Nguyên. Như chúng ta biết, trong việc xây dựng một thương hiệu mới, sự ủng hộ của các phương tiện thông tin đại chúng có ư nghĩa cực kỳ to lớn. Trong thời đại hiện nay, số lượng quảng cáo nhiều đến mức đang làm cho quảng cáo trở thành một khái niệm gây phản cảm cho người tiêu dùng (mặc dù Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có mức chi phí quảng cáo tính trên đầu người thuộc loại thấp). Ư nghĩ đầu tiên khi bạn xem một đoạn phim quảng cáo là ǵ? Đúng rồi, “quảng cáo ấy mà...”. Và trong bối cảnh đó, người tiêu dùng có xu hướng tin theo “công luận”. PR trở thành cầu nối trực tiếp đến ḷng tin của người tiêu dùng. Và không có ǵ đáng ngạc nhiên khi chỉ trong một thời gian ngắn, Trung Nguyên đă chiếm được cảm t́nh của người tiêu dùng, và cùng với ḷng tin đó là uy tín của thương hiệu, là tăng trưởng của doanh thu... Trung Nguyên đă thực hiện một cuộc xâm nhập thị trường ngoạn mục nhất trong lịch sử xây dựng thương hiệu Việt Nam. Song điều ǵ đă thu hút sự quan tâm của giới báo chí đến Trung Nguyên như vậy? Có thể liệt kê không dưới một chục lư do, từ màu đỏ bazan của vùng đất cao nguyên đến âm điệu du dương của slogan “khơi nguồn sáng tạo”, từ kinh nghiệm quản lư của Ban Giám đốc Trung Nguyên đến bí mật của kỹ thuật rang xay cafe... Song nguyên nhân trực tiếp và rơ ràng nhất dẫn đến sự quan tâm của báo chí chính là tính hiện tượng của Trung Nguyên. Những năm đó, thị trường cà phê Việt Nam (đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố phía Nam) hầu như là bỏ ngỏ, trong khi “uống cafe” đă không chỉ đơn thuần là nhu cầu giải khát, thậm chí không đơn thuần là thưởng thức. “Uống cà phê” có thể coi là một nét văn hóa mang đậm đà bản sắc của người Nam Bộ. Các quán cà phê là điểm hẹn thường xuyên của nhiều tầng lớp: từ sinh viên, học sinh tới cán bộ công chức, từ công nhân lao động tới giới văn nghệ sĩ... Điều đáng nói là, trong giai đoạn đó, các quán cafe chủ yếu mang tính chất gia đ́nh, nguồn cung cấp không rơ ràng, không mang tính hệ thống và hầu như không có chiến lược phát triển dài hạn. Và đó chính là cơ hội của Trung Nguyên: Trung Nguyên là thương hiệu Việt Nam đầu tiên được xây dựng và quản lư một cách bài bản trên thị trường cafe Việt Nam. Trung Nguyên là thương hiệu Việt Nam đầu tiên thực hiện chiến lược nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam và vươn ra thế giới. Chính hai chữ đầu tiên đó đă tạo nên cơn sốt các bài viết về Trung Nguyên. Song đó là chuyện của mấy năm trước. Giờ đây, mối quan tâm của báo chí đối với Trung Nguyên đang ngày một nhạt đi, đơn giản bởi hai chữ “Trung Nguyên” đă trở nên quen thuộc. Khi sự quen thuộc xuất hiện, cũng là lúc tính hiện tượng không c̣n. Cơn sốt đă hạ nhiệt. PR chỉ có thể là que diêm làm bùng cháy, chứ không phải là ḥn than để duy tŕ ngọn lửa thương hiệu. Nếu như chỉ trong 6 tháng cuối năm 2003, đă có trên 30 tin, bài về Trung Nguyên trên các báo, th́ trong năm 2004, con số này giảm đi gần một nửa. Tức là c̣n khoảng 15 bài, và hơn một nửa trong số đó là viết về Tổng giám đốc của Trung Nguyên khi ông đoạt giải Doanh nhân xuất sắc ASEAN. Chúng tôi không có con số thống kê các bài viết về Trung Nguyên trong năm 2005, song nói chung là xu hướng tiếp tục giảm (bạn có nhớ lần cuối cùng đọc bài viết về Trung Nguyên là khi nào không?). Rơ ràng là cánh buồm thương hiệu Trung Nguyên đang rất cần luồng gió marketing mới. Thứ hai, Trung Nguyên đang trở nên không đồng nhất. Về nhiều mặt. Có thể thấy rơ sự khác nhau về giá cả, chất lượng cafe và cả cung cách phục vụ tại các quán Trung Nguyên. Mức độ đầu tư cho bài trí không gian cũng có sự chênh lệch rất lớn. Với 14.000 đồng bạn có thể tới một quán rộng răi, mát mẻ, trang trí theo phong cách núi rừng, nhạc nhẹ nhàng và người phục vụ trong trang phục Tây Nguyên sẽ mang tới cho bạn một ly “số 4” (chẳng nhẽ không thể đặt được một cái tên “ngon lành” hơn?) thơm lừng. Với 10.000 đồng, bạn vẫn có được ly “số 4” đó tại một quán nhỏ hơn, chật hơn và nhiều khói thuốc hơn. H́nh ảnh Tây Nguyên ở đây được thu gọn trong một vài bài hát hoặc ảnh treo tường. Thậm chí “chỉ” với 7.000 đồng, bạn vẫn thưởng thức được ly cafe yêu thích tại một quán Trung Nguyên “b́nh dân”, với những chiếc ghế nhựa khác màu. Chỉ có điều là người phục vụ h́nh như không vui vẻ lắm, ly cà phê h́nh như hơi nhạt hơn, và thường th́ những cố gắng để t́m thấy nét văn hoá Tây Nguyên của bạn ở đây sẽ không mang lại kết quả. Cả ba quán trên đều nằm tại Sài G̣n! Có hai lư do chính để giải thích sự chênh lệch trên. Một là: Trung Nguyên đang sử dụng chiến lược khác biệt hóa về giá, nói nôm na là “khách nào giá ấy”. Mục tiêu của chiến lược này là tối đa hóa lợi nhuận. Song điều này có vẻ như không ổn lắm trong franchising. Hơn nữa, chiến lược này khá nguy hiểm đối với một thị trường quá bé như Sài G̣n. Hai là: Đây là hậu quả của một chiến dịch franchising ồ ạt, khi chất lượng nằm ngoài tầm kiểm soát. Lư do này có vẻ logic hơn. Đơn giản là Trung Nguyên đă không thể kiểm soát được hết các đối tác thuê thương hiệu. Và điều tất yếu là các quán Trung Nguyên này “mạnh ai nấy làm”. Ngoài sự chênh lệch trên có thể kể đến sự khác nhau giữa đồ ăn (có nhầm lẫn không nhỉ?) tại các quán này. Đa dạng và phong phú. Như trí tưởng tượng của các chủ quán. Và chất lượng đồ ăn cũng một trời một vực. Bạn hoàn toàn có thể hài ḷng với một đĩa khoai tây chiên tại quán Trung Nguyên trên đường B. T. X., và chắc chắn là bạn sẽ không thể ăn nổi cũng món khoai tây chiên đó tại một quán Trung Nguyên khác ngay trung tâm quận 1, TPHCM. Sự chênh lệch trên gây tác hại rất lớn cho quá tŕnh định vị h́nh ảnh Trung Nguyên trong tâm trí khách hàng. Lư do thật đơn giản, trong một bối cảnh “nhộn nhạo” như vậy, khi nhắc đến Trung Nguyên, người ta sẽ không chỉ nghĩ đến cafe (rẻ và đắt), mà c̣n nghĩ đến khoai tây chiên (ngon và không ngon), đến ḿ Thái (ăn được và không ăn được), đến bánh ḿ opla (gịn và ỉu), đến ḅ kho (nạc và mỡ), thậm chí đến toilet (sạch và không sạch)... Nếu không có biện pháp tích cực, hai “mầm bệnh” trên sẽ đánh gục một thương hiệu, cho dù đó là thương hiệu khoẻ mạnh như Trung Nguyên. Vấn đề chỉ là thời gian. Vậy th́ đâu là phương thuốc cho thương hiệu Trung Nguyên? Thiển nghĩ, khi đă biết được “bệnh” th́ việc “kê toa - bốc thuốc” cũng không phải quá phức tạp. Chúc cho Trung Nguyên măi là niềm tự hào của thương hiệu Việt. Theo TS. Đặng Vũ Thành Báo Đầu tư http://www.dantri.com.vn/kinhdoanh/2005/10/83756.vip Cà phê Việt thua v́... đứng ngoài “Hướng tới việc phát triển thị trường giao dịch kỳ hạn đối với xuất khẩu cà phê vào năm 2010 là mục tiêu của Vicofa. Đừng để thua lỗ kéo dài chỉ v́ chúng ta cứ đứng ngoài sàn giao dịch quốc tế”. Đây là khẳng định của ông Vân Thành Huy - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) với các doanh nghiệp tại hội thảo “Mua bán cà phê qua sở giao dịch tại Buôn Mê Thuột”. Cà phê là mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam với mức 800.000 tấn/năm đạt giá trị xuất khẩu gần 650 triệu USD/năm, trong đó tỉnh Đắc Lắc chiếm gần 80% sản lượng. Tuy nhiên, giá cà phê thế giới luôn biến động bất thường, do không có sự nhạy bén về thị trường nên nhiều doanh nghiệp và nông dân nước ta đă rơi vào t́nh trạng phá sản. Dù sản lượng nhiều nhưng cà phê Việt Nam luôn bị các doanh nghiệp nước ngoài ép giá với mức chênh lệch từ 50 - 100USD/tấn so với thị trường London. Cà phê Việt Nam thua thiệt do đứng ngoài chợ Giải thích t́nh trạng này, ông Huy thẳng thắn chỉ rơ: “Một phần là do chất lượng và nhất là do doanh nghiệp chưa thể hạn chế rủi ro v́ đứng ngoài “chợ” giao dịch quốc tế. Hơn 10 năm qua doanh nghiệp vẫn định giá cà phê bằng việc dựa vào thông tin bán lại của hăng tin Reuters, trừ đi chi phí, quy ra tiền Việt theo tỷ giá hối đoái rồi đưa ra mức giá mua bán tại địa phương trong khi từ cả trăm năm nay doanh nghiệp cà phê thế giới chỉ giao dịch qua thị trường kỳ hạn lớn như LIFFE (London), NYMEX (New York)”. Được biết, hiện nay chỉ mới có Ngân hàng Techcombank được Ngân hàng nhà nước chỉ định là ngân hàng đại diện cho các doanh nghiệp Việt Nam trước sàn giao dịch quốc tế. Theo ghi nhận tại buổi mua bán cà phê trực tiếp với LIFFE do ngân hàng Techcombank thực hiện th́ hầu hết các doanh nghiệp cà phê của Đắc Lắc vẫn c̣n e ngại về cách thức giao dịch trên thị trường này. Ông Ngô Đ́nh Quư, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu cà phê Tây Nguyên cũng nh́n nhận: “Doanh nghiệp cần phải được trang bị nghiệp vụ kĩ càng để có những phán đoán kịp thời”. Bà Hồng Nga, Giám đốc Xí nghiệp Phương Mai ngần ngại: “Việc mua bán hàng thật c̣n khó lường huống chi đây chỉ là giao dịch ảo”. Một doanh nghiệp muốn tham gia sàn giao dịch quốc tế sẽ phải kí một mức quỹ tương ứng với 10% trên tổng giá trị giao dịch của doanh nghiệp và một mức qũy duy tŕ với ngân hàng để đảm bảo giá trị tài khoản trên sàn giao dịch thế giới. Lúc này, mỗi doanh nghiệp sẽ có quyền chọn bán và chọn mua, theo kinh nghiệm của nhiều công ty đă giao dịch thành công th́ điều quan trọng nhất là mỗi doanh nghiệp phải biết “chốt” giá ngay thời điểm đặt lệnh để quyết định mua hay bán kịp thời. Chẳng hạn vào thời điểm hiện tại, doanh nghiệp kư hợp đồng bán 1.000 tấn cà phê với giá 1.000 USD/tấn, giao hàng thực vào tháng 3/2006 nhưng doanh nghiệp này tiên liệu giá sẽ tăng nên quyết định rao mua trên thị trường kỳ hạn 200 lots (5 tấn/lots) với giá 1.000 USD/tấn. Thông qua ngân hàng Techcombank, sàn giao dịch sẽ khớp lệnh cho bên mua và bên bán để thương thảo hợp đồng kỳ hạn. Đến thời điểm giao hàng giá tăng lên 1.050 USD/tấn. Như vậy trên thị trường thực tế th́ doanh nghiệp đă lỗ 50 USD/tấn, nhưng trên thị trường kỳ hạn th́ lời 50 USD/tấn. “Nhờ vào sự phán đoán thị trường và dùng hợp đồng kỳ hạn như một công cụ đă phần nào hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp trên thực tế”, bà Minh Hậu, chuyên viên giao dịch tiền tệ và ngoại hối ngân hàng Techcombank nh́n nhận. Giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh với thị trường nước ngoài Theo thống kê của Vicofa, hiện đă có 33 doanh nghiệp giao dịch thành công với 70.000 lots (350.000 tấn cà phê). Từ năm 2004, Vicofa đă mời nhiều chuyên gia nước ngoài đến để hướng dẫn kiến thức về thị trường kỳ hạn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả quan chức ngành thương mại; đồng thời kết hợp với Techcombank tổ chức các buổi mua bán qua sàn giao dịch LIFFE để doanh nghiệp làm quen với h́nh thức giao dịch này. Ông Vân Thành Huy thẳng thắn nhận định: “Việc tham gia vào thị trường kỳ hạn giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh với thị trường nước ngoài, nhất là khi Việt Nam đă có hành lang pháp lư cụ thể”. Luật Thương mại ra ngày 14/6/2005 sẽ chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2006, trong đó cho phép các doanh nghiệp được mua bán hàng hóa qua sàn giao dịch nước ngoài và được phép chọn ngân hàng uy tín để bảo lănh cho ḿnh. Thương hiệu cà phê Buôn Mê Thuột nay đă trở thành thương hiệu quốc gia, được nhà nước công nhận và bảo hộ. Đương nhiên những doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể tự ḿnh làm được mà phải có sự hỗ trợ của Hiệp hội để cùng nhau xây dựng và phát triển tài sản vô giá này trong đó việc tham gia vào sàn giao dịch quốc tế là điều bắt buộc. Rủi ro chỉ được hạn chế khi các doanh nghiệp đă sẵn sàng về nghiệp vụ và con người. Tất cả phải được chuẩn bị kĩ càng ngay từ bây giờ để doanh nghiệp có thể tự bảo vệ ḿnh, phát triển cho một thương hiệu và cho một cuộc hội nhập toàn cầu. Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Thương mại), trong thời gian tới giá cà phê xuất khẩu sẽ tăng trở lại cùng với xu hướng tăng giá của một số mặt hàng chủ chốt trên thế giới, trong bối cảnh giá năng lượng và giá nguyên liệu sản xuất tăng cao. Như vậy, sau một khoảng thời gian dài lắng xuống và hiện tại vẫn đang tiếp tục giảm nhẹ, đặc biệt là chỉ trong ṿng 3 tuần đầu tháng 3/2006 giá cà phê xuất khẩu đă giảm đến trên dưới 100 USD/tấn, hiện giá cà phê lại bắt đầu có xu hướng tăng trở lại và khả năng sẽ tăng đáng kể vào tháng 7 và tháng 8/2006. Theo phân tích của các chuyên gia, có 2 nguyên nhân chính để giá cà phê tăng trở lại. Một là, hiện nguồn cung cà phê trên thế giới vẫn đang trong t́nh trạng thiếu hụt. Hơn nữa, ở một số nước có nguồn cà phê dồi dào như Brazil, Việt Nam hay Colombia, việc thời tiết ngày càng thay đổi thất thường cộng với việc giá vật tư, nhiên liệu leo thang đẩy người trồng vào t́nh huống khó khăn khiến diện tích trồng cà phê ngày càng bị thu hẹp. Cụ thể, sản lượng dự kiến của Colombia vụ 2006 sẽ giảm từ 4-6% và tại Brazil sẽ giảm khoảng 1-1,5 triệu bao. Hai là, trong khi nguồn cung cà phê ngày càng có nguy cơ giảm xuống th́ nhu cầu lại có xu hướng tăng lên. Đặc biệt, nhu cầu về cà phê đang tăng rất mạnh ở nhiều nước sản xuất và các khu vực như Đông Âu và châu Á – nơi mà thu nhập đang tăng lên và lối sống có sự thay đổi. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Thương mại, trong vài năm tới, tiêu thụ cà phê ở những nước mới nổi và các nước sản xuất sẽ tác động tích cực tới giá, đặc biệt là khi tăng tiêu thụ tiếp tục ảnh hưởng tới lượng dự trữ. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng khuyến cáo, mặc dù khả năng tăng giá của cà phê (xuất khẩu và nội địa) rất cao song do là mặt hàng có tính không ổn định, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, đặc biệt là thời tiết, nên các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê cần theo dơi chặt chẽ diễn biến để có những quyết định kinh doanh có lợi. Diễn biến giá cà phê trên một số thị trường thế giới Thị trường Loại Kỳ hạn Đơn vị tính 15/05/06 8/5/06 +/- New York Arabica T7/06 T9/06 Uscent/lb 103,60 106,40 108,25 111,00 -4,65 -4,60 London Robusta T7/06 T9/06 USD/tấn 1152 1171 1209 1226 -57 -55 Tokyo Arabica Robusta T7/06 T7/06 Yên/69kg Yên/100kg 18220 13800 18580 14620 -360 -180 (Nguồn: Viện Nghiên cứu Thương mại) http://www.vneconomy.com.vn/vie/index.php?...=d613f43e41d623 |
| canthoteens.com | |
![]() |
|
| « Previous Topic · Hỏi/Đáp Du lịch · Next Topic » |








2:32 AM Jul 12