Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Tác gia Hoàng đế; Thi sĩ Trần Nhân tông
Topic Started: Jul 7 2010, 10:14 AM (461 Views)
TheBlackSun
Member Avatar
Administrator
1. Với tầm vóc danh nhân văn hóa, Trần Nhân Tông (1258-1308) tỏa sáng trên tư cách một vị hoàng đế sáng suốt, vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và để lại những áng thi ca thấm đậm lẽ đạo t́nh đời. Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cơi đời, Trần Nhân Tông đă có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và để lại nhiều tác phẩm thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm đặc biệt giá trị(1).

Trên thực tế, có thể nhận diện về Trần Nhân Tông như một nhân vật lịch sử, một mẫu h́nh hoàng đế phương Đông gắn với vị thế thiền sư - nhà truyền giáo và tư cách thi nhân - người kiến tạo những giá trị văn hóa. Ở đây, trong phạm vi cụ thể hơn, trước hết chúng tôi định vị Trần Nhân Tông như một tác gia văn học, trên cơ sở đó sẽ soi chiếu trở lại cả ba phương diện hoàng đế - thiền sư - thi sĩ cùng hiện diện trong một tác gia Trần Nhân Tông; nói cách khác, chúng tôi không nhằm phác thảo chân dung một nhân vật lịch sử hoàng đế nói chung mà chủ ư qua thơ văn sẽ đi đến xác định đặc điểm kiểu mẫu tác gia hoàng đế - thiền sư - thi sĩ Trần Nhân Tông...

2. Vào ngày 24-2 năm Mậu Ngọ (1258), Trần Thái Tông lui về Bắc cung làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Hoàng thái tử Hoảng (Trần Thánh Tông). Mùa đông năm ấy, nhằm ngày 11-11, Hoàng trưởng tử Khâm ra đời. Đến tháng 12 năm Quư Dậu (1273), Hoàng trưởng tử Khâm được sách phong làm Hoàng thái tử, lấy con gái trưởng của Hưng Đạo Vương làm phi...

Kịp đến ngày 22-10 năm Mậu Dần (1278), Trần Thánh Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Khâm (Nhân Tông). Từ đây, Trần Nhân Tông bắt đầu một trang đời mới trên cương vị bậc Hoàng đế, đặc biệt đă cùng Trần Thánh Tông và toàn dân Đại Việt đánh tan hai cuộc xâm lược của đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh (1285, 1287-1288). Trong thời điểm nguy nan của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1285, Trần Nhân Tông cho khắc thơ vào thuyền ngự để động viên quân sĩ và khẳng định niềm tin chiến thắng:

Cối Kê cựu sự quân tu kư,

Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh.

(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,

Hoan, Diễn c̣n kia chục vạn quân)

Bước vào cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông từng trực tiếp sai người đi ḍ xét t́nh h́nh giặc, từng đi thuyền nhẹ và đi bộ qua các vùng Ba Chẽ - Quảng Yên - Yên Hưng (Quảng Ninh), từng trực tiếp chỉ huy đánh giặc trên địa bàn các tỉnh Hưng Yên, Ninh B́nh và dọc sông Hồng. Trên tư cách bậc đế vương, Trần Nhân Tông đă có lời nói và hành động khá đặc biệt trước việc chém được đầu Nguyên soái Toa Đô. Sách Đại Việt sử kư toàn thư ghi: "Vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, thương hại nói: "Người làm tôi phải nên như thế này". Rồi cởi áo ngự, sai quân đem liệm chôn, nhưng ngầm sai lấy đầu Toa Đô đem tẩm dầu để răn, v́ cớ Toa Đô mượn đường vào cướp nước ta đă ba năm"(2). Thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, Trần Nhân Tông đề cao lễ nghĩa kẻ bề tôi ngay cả khi biết đó là kẻ đối địch; mặt khác, ở vị thế người đứng đầu cả một nước, một dân tộc độc lập, tự chủ, ông kiên quyết sai lấy đầu Toa Đô tẩm dầu làm răn v́ can tội "mượn đường vào cướp nước ta"...

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược năm 1287-1288, trên tư cách Hoàng đế, Trần Nhân Tông thể hiện rơ tinh thần yêu nước và tài năng tổ chức, tập hợp lực lượng. Trước thế giặc, vua từng hai lần hỏi ư kiến Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: "Thế giặc năm nay thế nào?", và: "Giặc tới, liệu t́nh h́nh thế nào?", rồi được Trần Quốc Tuấn trả lời: "Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn", và: "Năm nay đánh giặc nhàn"... Trong việc dùng người, Trần Nhân Tông biết Trần Khánh Dư là kẻ tham nhưng vẫn sử dụng. Sách Đại Việt sử kư toàn thư chép: "Khánh Dư tính tham lam thô bỉ, những nơi ông ta trấn nhậm, mọi người đều rất ghét. Nhân Tông chỉ tiếc ông có tài làm tướng nên không nỡ bỏ mà thôi"(3)... Nhà vua c̣n trực tiếp ḥa giải mối hiềm khích giữa Tả phụ Lê Ṭng Giáo với Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên, kết quả: "Từ đó, Ṭng Giáo và Củng Viên giao hảo với nhau ngày càng gắn bó"... Đến ngày toàn thắng, Trần Nhân Tông cử lễ bái yết Chiêu Lăng và có hai câu thơ nổi tiếng nhằm khẳng định bản lĩnh, sức mạnh và thể hiện sâu sắc niềm tự hào dân tộc:

Xă tắc lưỡng hồi lao thạch mă,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xă tắc hai phen chồn ngựa đá,

Non sông ngàn thuở vững âu vàng)

Trong thời b́nh, Trần Nhân Tông thực hiện chủ trương "khoan sức dân", mở rộng sản xuất, đưa ra chính sách thi cử và tuyển dụng nhân tài tiến bộ, thúc đẩy kinh tế, văn hóa dân tộc phát triển ổn định. Với tầm nh́n xa rộng, ngay cả sau chiến thắng, khi đă nhường ngôi cho con và bản thân làm Thượng hoàng (1293), Trần Nhân Tông vẫn đích thân đi đánh dẹp nơi biên ải, trực tiếp giám sát, khuyên bảo vua Anh Tông và tham gia cắt đặt công việc chính sự. Trần Nhân Tông cũng là người trực tiếp điều binh khiển tướng củng cố vững chắc vùng biên giới phía Tây và phía Nam đất nước. Sách Đại Việt sử kư toàn thư ghi: "Canh Dần (1290)... Vua thân đi đánh Ai Lao. Triều thần can rằng: "Giặc Hồ vừa rút, vết thương chưa lành, đâu đă có thể dấy binh đao!". Vua nói: "Chỉ có thể lúc này ra quân thôi. V́ sau khi giặc rút, ba cơi tất cho là lính tráng, ngựa chiến của ta đă chết cả, thế không thể nổi lên, sẽ có sự khinh nhờn từ bên trong, cho nên phải cất quân lớn để thị uy". Bầy tôi đều nói: "Nhà vua há chẳng biết làm nhọc dân là việc đáng lo, nhưng c̣n có việc to lớn hơn thế nữa. Thánh nhân lo xa, bọn thần không thể nghĩ được"... Rồi khi đă lên làm Thái thượng hoàng, Trần Nhân Tông vẫn lo toan việc nước: "Năm Giáp Ngọ (1294)... Tháng 8. Thượng hoàng đích thân đi đánh Ai Lao, bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết"(4)... Ngay cả khi đă xuất gia tu hành, đến năm Tân Sửu (1301), Trần Nhân Tông vân du các nơi và sang tận Chiêm Thành cầu đạo, đồng thời có bàn đến việc quốc sự và hứa gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lư. Sách Đại Việt sử kư toàn thư chép:

"Bính Ngọ (1306)... Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân. Trước đây, Thượng hoàng (Nhân Tông) vân du sang Chiêm Thành đă hứa gả rồi. Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm thơ, từ bằng quốc ngữ để châm biếm việc đó...

Đinh Mùi (1307)... Mùa xuân, tháng Giêng, đổi hai châu Ô, Lư thành châu Thuận và châu Hóa. Sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên hai châu đó. Trước đấy chúa Chiêm Thành Chế Mân đem đất hai châu đó làm lễ vật dẫn cưới nhưng người các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo. Vua (Anh Tông) sai Nhữ Hài đến tuyên dụ đức ư, chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn tô thuế ba năm để vỗ về"(5)...

Trong công việc triều chính cũng như cuộc sống thường nhật, Trần Nhân Tông thực sự là vị vua anh minh, khoan từ, cố kết được ḷng người. Ngay một việc như Phùng Sĩ Chu có công đoán: "Thế nào cũng đại thắng", vua mừng bảo: "Nếu đúng như lời đoán sẽ có trọng thưởng. Đến khi giặc yên, vua nói: "Thiên tử không có nói đùa". Vua coi Sĩ Chu là người trung hiếu, có tài văn nghệ, lấy làm Hành khiển, sau thăng đến Thái phó... Trần Nhân Tông c̣n tỏ ra là người không quá câu nệ, cố chấp vào khuôn thước lễ nghi quan phương. Khi để tang Thượng hoàng Thái Tông mới hơn ba tháng, Ngự sử đại phu Đỗ Quốc Kế tâu: "Phàm để tang không nên làm thương tổn người sống. Nay thiên tử đều dùng kiệu khiêng, thế là người sống bị tổn thương, xin hăy cưỡi ngựa". Hiểu rơ bản chất sự việc, vua nghe theo, từ đó dùng ngựa có yên màu trắng... Trần Nhân Tông cũng là người sống thủy chung như nhất, có trước có sau, đối xử b́nh dị, chân t́nh với cả những gia đồng, người ở. Sách Đại Việt sử kư toàn thư chép: "Vua từng ngự chơi bên ngoài. Giữa đường, hễ gặp gia đồng của vương hầu th́ tất gọi tên chúng mà hỏi: "Chủ mày ở đâu?", rồi răn các vệ sĩ không được thét đuổi. Đến khi về cung, bảo tả hữu rằng: "Ngày thường th́ có thị vệ tả hữu, khi quốc gia lâm hoạn nạn th́ chỉ có bọn chúng có mặt". V́ là vua cảm mến bọn chúng đi theo bảo vệ ḿnh hồi phải chạy ra khỏi kinh thành mà nói thế"(6)... Trong vai tṛ Thượng hoàng, Trần Nhân Tông vẫn nghiêm túc răn dạy vua Anh Tông từ việc lớn đến việc nhỏ. Sách Đại Việt sử kư toàn thư chép: "Bấy giờ Thượng hoàng (Nhân Tông) từ phủ Thiên Trường trở về kinh sư. Các quan trong triều không ai biết cả. Vua (Anh Tông) th́ uống rượu xương bồ say khướt. Thượng hoàng thong thả đi khắp các cung điện, từ giờ Th́n đến giờ Tỵ. Cung nhân dâng bữa. Thượng hoàng ngoảnh nh́n không thấy vua, lấy làm lạ, hỏi là Quan gia ở đâu? Cung nhân vào trong nội đánh thức nhưng vua không tỉnh. Thượng hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội. Đến giờ Mùi vua mới tỉnh, cung nhân đem việc ấy tâu lên. Vua sợ quá, đi rảo ra khỏi cửa cung không thấy ai coi giữ; qua chùa Tư Phúc thấy học tṛ Đoàn Nhữ Hài ở cửa chùa. Vua hỏi: "Sao ngươi lại ở đây?". Nhữ Hài vội vàng lạy rạp xuống đất tâu: "Thần v́ mải học, đi lỡ ra đây". Vua bèn dẫn Nhữ Hài vào buồng ngủ và bảo: "Vừa rồi trẫm v́ say rượu, đắc tội với Thượng hoàng, giờ trẫm định đến trước mặt ngài tạ tội, ngươi hăy thảo cho trẫm bài biểu (...). Sáng sớm hôm sau, vua tới phủ Thiên Trường dâng biểu tạ tội. Thượng hoàng thấy Nhữ Hài, liền hỏi là người nào. Nội nhân trả lời là người dâng biểu của Quan gia. Thượng hoàng không nói ǵ. Buổi chiều, mưa gió to ập đến. Nhữ Hài vẫn cứ qú không nhúc nhích. Thượng hoàng hỏi: "Người ở trong sân có c̣n đấy không?". Nội nhân đáp rằng c̣n. Thượng hoàng bèn sai nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết mới cho gọi vua vào bảo: "Trẫm c̣n có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi c̣n như thế, huống chi sau này?". Vua rập đầu tạ tội"(7)...

Không chỉ thể hiện là bậc hoàng đế đạt tới những phẩm chất cơ bản của đấng minh quân chí hiếu - chí nhân - chí minh - chí thành - chí kính(8), Trần Nhân Tông c̣n bộc lộ sâu sắc vị thế và uy vọng của ḿnh qua những vần thơ thế sự. Khi đất nước lâm nguy, Trần Nhân Tông ứng khẩu đề thơ, bày tỏ tinh thần dấn thân nhập cuộc cùng toàn dân đánh giặc cứu nước. Đến thời b́nh, ông viết Xuân nhật yết Chiêu Lăng (Ngày xuân thăm Chiêu Lăng) để tỏ ḷng nhớ ơn tiên tổ và cuộc chiến vừa đi qua:

T́ hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm thông.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Văng văng thuyết Nguyên Phong.

(Ngh́n cửa, nghiêm t́ hổ,

Bảy phẩm, đủ cân đai.

Lính bạc đầu c̣n đó,

Chuyện Nguyên Phong, kể hoài)(9)

(Trần Lê Văn dịch)

Với sự tự ư thức về vai tṛ vương quyền và ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo trong quan niệm về con người, Trần Nhân Tông đề vịnh cây mai để khẳng định phẩm chất bậc hoàng đế:

Thiết đảm, thạch can lăng hiểu tuyết,

Cảo quần, luyện thuế nhạ đông phong.

Nhân gian kiệm tố Hán Văn Đế,

Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.

(Mai)

(Gan ĺ sắt đá nhờn sương tuyết,

Mộc mạc khăn xiêm đón gió đông.

Như Hán Văn xưa, danh tiết kiệm,

Thái Tông, Đường nọ, tiếng anh hùng)

(Cây mai - Đào Phương B́nh dịch)

Khi khác Trần Nhân Tông ghi nhận tiết tháo cứng cỏi của bề tôi, gián cách tỏ ḷng tôn trọng các bậc quần thần chư quân tử:

Ngạo tuyết tâm hư,

Lăng sương tiết kính.

Giả nhĩ vi nô,

Khủng phi thiên tính.

(Trúc nô minh)

(Tâm không giăi tuyết,

Đốt cứng phơi sương.

Mượn ngươi làm nô,

Sợ trái tính thường)

(Bài minh đề trúc nô - Cao Xuân Huy dịch)

Điều đặc biệt là hoàng đế Trần Nhân Tông trên đường đưa quân đánh biên giới phía Tây lại nhập thân trong số phận người lính, đồng cảm với nỗi vui buồn của họ và tự phản tỉnh, tự thức nhận ra mặt trái của cuộc chinh chiến:

Cẩm phàm khinh sấn lăng hoa khai,

Bồng để yêm yêm thủ bất đài.

Tam Giáp mộ vân vô nhạn đáo,

Cửu Than minh nguyệt hữu long lai.

Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,

Liêu loạn nhàn sầu đáo tửu bôi.

Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng,

Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.

(Tây chinh đạo trung)

(Buồm gấm vèo bay, hoa sóng tung,

Đầu nghe mệt mỏi dưới mui hồng.

Mây chiều Tam Giáp trông không nhạn,

Trăng sáng Cửu Than thấy cá rồng,

Quạnh quẽ dặm xa mơ điện cũ,

Vấn vương sầu lắng thấm ly nồng.

Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến,

Lật đật nam nhi có uổng công?)

(Trên đường Tây chinh - Trần Lê Văn dịch)

Thêm nữa, trên cương vị người đứng đầu đất nước, cả khi đang làm vua cũng như khi làm Thái thượng hoàng hay khi đă xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh, Trần Nhân Tông thường xuyên quan tâm theo dơi mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với phương Bắc. Ngay từ năm Tân Măo (1291), Trần Nhân Tông đă có lời biện giải việc từ chối sang chầu một cách mềm dẻo nhưng cương quyết, đồng thời lại khéo léo khẳng định chủ quyền đất nước và lên án mưu mô xâm lược của nhà Nguyên. Trong khoảng mười năm (1291-1301), Trần Nhân Tông đă tiếp đón và làm thơ tiễn tặng, xướng họa với nhiều sứ thần nhà Nguyên như Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính (Ngày xuân tặng bánh cho Trương Hiển Khanh), Tống Bắc sứ Lư Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai (Tiễn sứ Bắc Lư Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai), Tặng Bắc sứ Lư Tư Diễn (Tặng sứ phương Bắc Lư Tư Diễn), Họa Kiều Nguyên Lăng vận (Họa thơ Kiều Nguyên Lăng), Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lăng (Tiễn sứ Bắc Ma Hợp, Kiều Nguyên Lăng)... Nội dung các bài thơ có ư khoa trương, khuôn sáo, tán tụng công đức sứ thần, trước sau nhằm tránh nạn can qua, giữ cho đất nước được yên b́nh.

Trên tư cách con người xă hội, Trần Nhân Tông thực sự là vị hoàng đế anh minh và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh cao cả của ḿnh. Suốt một đời, Trần Nhân Tông đă sống dấn thân qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và một ḷng dựng xây đất nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Lịch sử và chính những trang văn c̣n lại đă xác nhận vị thế Trần Nhân Tông trên tư cách hoàng đế - danh nhân văn hóa tiêu biểu của dân tộc.

3. Đặt trong tương quan giữa đời và đạo, mối quan hệ giữa vương quyền và thần quyền, trước hết cần khẳng định thái độ rành mạch của Trần Nhân Tông trong quan niệm và cách thức ứng xử trước cuộc đời, khi nào cần "ḥa quang đồng trần" gắn bó với sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước, khi nào có thể chuyên tâm với kinh sách và rộng đường hoằng dương Phật pháp.

Trong mối duyên lành với nhà Phật, Trần Nhân Tông có điều kiện thuận lợi bởi vượt lên giữa những cuộc chiến chống xâm lược ác liệt là một thời Phật giáo hưng thịnh. Trực tiếp hơn, Trần Nhân Tông từng được tiếp nhận tư tưởng Phật giáo từ ông nội Trần Thái Tông (1218-1277), vua cha Trần Thánh Tông (1240-1290) và đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291)... Có thể nói tâm thế Trần Nhân Tông sớm hướng đến cửa Phật nhưng kể từ khi lui về làm Thái thượng hoàng th́ mọi điều kiện, cơ duyên mới thực sự chuyển hóa thành hành động, việc làm cụ thể. Đây là cả một quá tŕnh, một sự vận động, đan xen, đổi thay, tiếp nối trong nhiều năm trời. Trên thực tế, Trần Nhân Tông quyết định nhường ngôi cho Hoàng thái tử Thuyên (Trần Anh Tông) vào đầu năm Quư Tỵ (1293). Đến mùa thu năm sau (Giáp Ngọ, 1294), Thượng hoàng đă xuất gia ở hành cung Vũ Lâm (Ninh B́nh) nhưng liền đó vẫn đích thân đi đánh dẹp phía Tây và tiếp tục chỉ bảo, răn dạy vua Anh Tông. Phải đến tháng 8 năm Kỷ Hợi (1299), Thượng hoàng mới chính thức "từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh", lấy đạo hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, trở thành vị tổ thứ nhất Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử... Từ đây bắt đầu một chặng đời mới với việc tu hành, viết sách, giảng kinh ở chốn non thiêng Yên Tử, đồng thời vân du các nơi và sang tận Chiêm Thành (chuyến đi năm Tân Sửu, 1301, từ tháng 3 đến tháng 11 mới trở về). Tuy vậy, trước sau Trần Nhân Tông vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với nhà vua, triều đ́nh và các triều thần. Với Đoàn Nhữ Hài, Thượng hoàng từng khen ngợi: "Bài biểu ngươi soạn, rất hợp ḷng trẫm", "Nhữ Hài đúng là người giỏi, hắn được Quan gia (Anh Tông) sai khiến là phải", rồi việc Nhữ Hài đi sứ Chiêm Thành và được thăng thưởng chắc chắn có thêm ư kiến của Trần Nhân Tông. Với Chi hậu Bạ thư Chánh chưởng Phí Mộc Lạc cũng được Trần Nhân Tông quí trọng tài năng, được đổi họ tên thành Bùi Mộc Đạc và cho theo hầu ngày đêm. Sách Đại Việt sử kư toàn thư cũng như Tam tổ thực lục(10) đều chép việc Trần Nhân Tông từng mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí... Riêng sách Tam tổ thực lục ghi chép khá kỹ lưỡng cuộc đời Trần Nhân Tông với ư nghĩa một tiểu truyện thiền sư, khởi đầu từ việc Trúc Lâm Đại sĩ (Trần Nhân Tông) sinh ra gắn với điềm lạ, cuộc đời hành đạo có nhiều công tích, để lại nhiều thơ văn và cuối cùng là cái chết thanh thản, "hóa thân", "trở về" theo đúng cảm quan "sinh kư tử qui" của Phật giáo(11)... Trong tiểu truyện về thiền sư Trần Nhân Tông cũng mang đặc tính hỗn dung thể loại, tàng trữ các giá trị thi ca, những lời đối thoại, hỏi đáp về Phật - Pháp - Tăng, về quá khứ - hiện tại - vị lai, về công án - giáo điển, về nhân quả - hóa thân... Sách này cũng mô tả chi tiết những sự kiện diễn ra trong suốt tháng cuối cùng, lập danh sách bốn tác phẩm của Điều Ngự c̣n truyền lại. Đồng thời sách tiếp tục giới thiệu việc Điều Ngự mở ba giới đàn ở chùa Chân Giáo trong đại nội, chùa Báo Ân ở Siêu Loại, chùa Phổ Minh ở Thiên Trường và đi đến tổng kết quá tŕnh đào tạo tăng ni: "Các đệ tử nối ḍng pháp đă liệt kê đầy đủ nơi bản đồ trong Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, c̣n những người được Điều Ngự dẫn dắt, âm thầm khế hợp với tông chỉ th́ không kể hết"... Xác định vị thế thiền sư Trần Nhân Tông trong bối cảnh Phật giáo thời Trần, thầy Nguyễn Lang nhấn mạnh các phương diện "một ông vua xuất gia", "ư nguyện xây dựng một nền ḥa b́nh Chiêm - Việt lâu dài" và nguyện ước "xây dựng một giáo hội mới"(12)... Trên phương diện sáng tác, Trần Nhân Tông c̣n để lại nhiều tác phẩm in đậm tư tưởng Phật giáo. Nhiều bài thơ khơi nguồn cảm hứng tương tự như một hoàng đế, một nhà nho, một ông quan đề vịnh cảnh chùa đất Phật: Đề Cổ Châu hương thôn tự (Đề chùa làng hương Cổ Châu), Động Thiên hồ thượng (Trên hồ Động Thiên), Đề Phổ Minh tự thủy tạ (Đề nhà thủy tạ chùa Phổ Minh), Thiên Trường phủ (Phủ Thiên Trường), Đại Lăm Thần Quang tự (Chùa Thần Quang trên núi Đại Lăm)...; có thơ ngợi ca công tích bậc cao tăng như Tán Tuệ Trung Thượng sĩ (Ca ngợi Thượng sĩ Tuệ Trung) và trực tiếp viết tiểu truyện về sư thầy với Thượng sĩ hành trạng (Hành trạng của Thượng sĩ Tuệ Trung)... Tuy nhiên, những tác phẩm căn cốt thể hiện sâu sắc tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông chính là những trang viết bày tỏ trực tiếp quan niệm của tác giả. Bàn về mối quan hệ hữu - vô, Trần Nhân Tông mở đầu cho chín khổ thơ đều bằng câu Hữu cú vô cú (Câu hữu câu vô) và đi đến đoạn kết với ư tưởng phá chấp, dứt trừ phân chia vọng niệm, đạt tới cảnh giới vô phân biệt:

Hữu cú vô cú,

Điêu điêu đát đát.

Tiệt đoạn cát đằng,

Bỉ thử khoái hoạt.

(Câu hữu câu vô,

Khiến người rầu rĩ.

Cắt đứt mọi duyên như dây leo,

Th́ hữu và vô đều thông suốt)

Trần Nhân Tông cũng để lại những lời giảng giải dưới h́nh thức hỏi đáp có ư nghĩa như những công án phân biệt mê ngộ bằng thơ. Tùy theo cơ duyên, mỗi người sẽ có được một cách hiểu, t́m đến một lời giải, một lối thụ cảm riêng. Chẳng hạn, Trần Nhân Tông đă trả lời câu hỏi của môn đệ về gia phong của tam thế Phật và của chính Ḥa thượng:

"Lại hỏi:

- Thế nào là gia phong của Phật quá khứ?

Đáp:

Rừng vườn vắng vẻ không người quản,

Mận trắng đào hồng riêng tự hoa.

Hỏi:

- Thế nào là gia phong của Phật hiện tại?

Đáp:

Nước trắng mênh mông chim én lạc,

Vườn tiên đào thắm gió xuân say.

Lại hỏi:

- Thế nào là gia phong của Phật vị lai?

Đáp:

Đợi triều bên bể trăng gần mọc,

Nghe sáo thuyền câu khách nhớ nhà.

Lại hỏi:

- Thế nào là gia phong của Ḥa thượng?

Đáp:

Áo rách ôm mây, ban mai húp cháo,

B́nh xưa dốc nguyệt, trời khuya nấu trà"...

(Băng Thanh dịch)

Theo một chiều hướng khác, thầy Thích Thanh Từ đi sâu phân tích những đóng góp của Trần Nhân Tông giai đoạn từ khi làm Thái thượng hoàng rồi chính thức xuất gia tu hành cho đến ngày qui tịch: "Quyển Hai quăng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam... Con người của Sơ Tổ Trúc Lâm làm việc ǵ phải đến nơi đến chốn, đạt kết quả viên măn mới thôi. Đánh giặc khi nào quân xâm lăng ra khỏi nước mới dừng. Nghiên cứu Phật pháp đến chỗ uyên thâm nhất mới thỏa măn. Tu hành đến ngộ đạo mới đi hoằng hóa. Thật là một tấm gương sáng ngời để cho kẻ đời, người đạo học hỏi theo... Ở đây nói hai quăng đời là kể từ khi Ngài làm Thái thượng hoàng, c̣n là cư sĩ mà học Phật rất uyên bác. Cụ thể là bài Cư trần lạc đạo phú đă nói lên chỗ thấy hiểu của Ngài không thua kém các Thiền sư Trung hoa. Đến khi xuất gia làm Tăng sĩ, Ngài quên thân tu khổ hạnh, miệt mài chốn núi rừng đến ngộ đạo mới măn nguyện. Qua bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, chúng ta thấy rơ tinh thần này. Xuất gia vào núi sâu không phải để trốn đời mà cốt gia công luyện lọc tâm mê lầm để được trong sạch, giác ngộ tṛn đầy. Đến đây Ngài mới hài ḷng vào cuộc đời để giáo hóa chúng sinh"(13). Có thể nói đây chính là một cách nhận diện chân dung con người thiền sư Trần Nhân Tông và đồng thời cũng mượn hai tác phẩm lớn để lư giải thực chất những đóng góp của Trúc Lâm Đại sĩ với cơi đời nói chung và với Phật giáo nói riêng. Điều cần chú ư là cả hai tác phẩm trường thiên đều bằng chữ Nôm, giữ vai tṛ định giá tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông cũng như khơi mở cho bộ phận thơ Nôm dân tộc phát triển. Với Cư trần lạc đạo phú, tác giả nhấn mạnh nội dung "phú ở cơi trần vui đạo". Qua mười hội và ngay từ câu mở đầu mỗi hội cũng thấy rơ nét nghĩa của sự tỉnh thức, phát hiện, đúc kết với các từ ngữ: Biết vậy..., Tin xem..., Vậy mới hay..., Vậy cho hay..., Thực thế..., Chưng ấy..., Tượng chúng ấy... Tác phẩm là một bản ḥa ca về con người biết vui với đạo khi đang sống giữa cơi đời và đi đến lời kệ có ư nghĩa tóm lược, tổng kết toàn bộ nội dung bài phú:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

(Cơi trần vui đạo hăy tùy duyên,

Đói cứ ăn no mệt ngủ yên.

Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm,

Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền)

(Huệ Chi dịch)

Đúng như kiến giải của thầy Thích Thanh Từ, tác phẩm Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca lại nhấn mạnh sắc thái "được thú lâm tuyền thành đạo" và có ư nghĩa như một đối ảnh so với Cư trần lạc đạo phú. Với h́nh thức thơ trường thiên bốn câu, Trần Nhân Tông chỉ ra mối quan hệ giữa cái thân - chủ thể con người với cảnh giới tự nhiên và cảm nhận:

Sinh có nhân thân,

Ấy là họa cả...

Yên bề phận khó,

Kiếm chốn dưỡng thân...

Vắng vẻ ngàn kia,

Thân ḷng hỷ xả...

Cốc hay thân huyễn,

Chẳng khác phù vân...

An thân lập mệnh,

Thời tiết nhân duyên...

Thân này chẳng quản,

Bữa đói bữa no...

Pháp thân thường trụ,

Phổ măn thái hư...

Kết thúc khúc ca thành đạo, Trần Nhân Tông lại có bài kệ biểu cảm tâm thức con người đạt đạo, thấu hiểu lẽ chân như và trở lại ḥa nhập trong cuộc sống đời thường:

Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim.

(Sống yên giữa cảnh lặng ḷng không,

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.

Dưới gốc giường thiền kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ đáng muôn đồng)

(Huệ Chi dịch)

Với tư cách vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông thể hiện khả năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xă hội và mạch nguồn tư tưởng văn hóa dân tộc. Trần Nhân Tông cũng là nhân vật lịch sử hiếm hoi kết hợp nhuần nhuyễn cả hai vai tṛ vương quyền và thần quyền, vị thế giáo chủ và một thiền sư đắc đạo, nhà truyền giáo và nhà truyền bá văn hóa bằng chính những trang thơ độc đáo.

Ừ th́! Mọi ngóc nghách t́nh yêu có thể anh đă từng đi qua,
Anh cũng đă từng khóc, từng say đắm và cũng từng nông nổi.
Đến một lúc trái tim chai sạn trước những vết thương,
Anh lại trở về là chính anh, cái cậu bé ngốc nghếch ...
Thích tự đi t́m cho riêng ḿnh một t́nh yêu ảo ảnh.
Chỉ xin em đừng là gió, gió rồi cũng sẽ bay đi.
Em đừng là loài chim - đến một ngày sẽ t́m về phương trời khác.
Em đừng là con sóng - êm đềm...say đắm rồi...tan vỡ.
Cũng đừng là cơn mưa ướt hết lối anh về.
Em đừng là ǵ cả ...v́ em là tất cả trong anh !


Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
TheBlackSun
Member Avatar
Administrator
4. Về sự nghiệp sáng tác, Trần Nhân Tông c̣n để lại trên ba mươi tác phẩm, trong đó có các bài tán, minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. Các sáng tác của Trần Nhân Tông trải rộng diện đề tài từ ḍng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường, từ vận mệnh quốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ thơ bang giao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm chất Thiền... Chỉ xem qua nhan đề các bài thơ cũng thấy bước chân ông đă trải khắp mọi miền xứ sở, từ miền quê Thiên Trường (Nam Định) đến động Vũ Lâm (Ninh B́nh), hương Cổ Châu, chùa Thần Quang (Bắc Ninh), Châu Lạng (Bắc Giang), từ một cuộc Tây chinh đến hồ Động Thiên - Yên Tử (Quảng Ninh)... Bậc hoàng đế - thiền sư - thi nhân vui với một nhành mai, bâng khuâng trong một sớm mùa xuân, một chiều trước cánh đồng làng, một ngày thu nơi non cao chùa vắng, một sự ḥa nhập nội tâm trầm tư trong cơi thiền sâu lắng.

Trên thực tế, đương nhiên thật khó tách bạch chân dung thi nhân Trần Nhân Tông trong mối liên hệ với tiếng thơ của một hoàng đế hay đơn thuần với vị thế một thiền sư đắc đạo. Bởi lẽ trong mỗi bài thơ in đậm chủ đề quan phương trong ngôi vị đế vương th́ Trần Nhân Tông vẫn có cách nói riêng, có những ư thơ và tứ thơ độc đáo. Chiếu ứng với những bài thơ hướng về cảm quan Phật giáo, Trần Nhân Tông vẫn thể hiện được tiếng nói trữ t́nh và âm hưởng cuộc đời trần thế. Trên tất cả, Trần Nhân Tông luôn biểu lộ tư chất con người nghệ sĩ, luôn phát hiện giá trị cái đẹp trong thế giới thực tại, cả trong những suy tưởng triết học Phật giáo cũng như cuộc sống đời thường. Xin nhấn mạnh thêm, vị thế hoàng đế và cảm quan Phật giáo không đối nghịch với cuộc sống mà thực chất chỉ là những cách nh́n nhận và h́nh dung khác nhau về thực tại. Hơn thế nữa, hồn thơ Trần Nhân Tông không quá khuôn thước, giáo điều trong tín niệm của một con nhang đệ tử toàn ṭng; càng chưa bị Nho giáo hóa theo lối cá nhân "khắc kỷ phục lễ", quan phương, chính thống. V́ thế tinh thần Phật giáo thấm đậm trong thơ ông được chiêm nghiệm, kết tinh từ chính cuộc đời, tạo nên một cách quan niệm, h́nh dung về kiếp người và cơi đời nương theo tinh thần nhà Phật. Đặc tính "ḥa quang đồng trần" c̣n được thể hiện ở nhiều tác phẩm in đậm dấu ấn Thiền học của Trần Nhân Tông mà vẫn xuất lộ các h́nh ảnh, điển tích Nho giáo. Đơn cử trong Cư trần lạc đạo phú vẫn thấy nhắc đến "Sách Dịch xem chơi", "Ơn Nghiêu khoáng cả", "Ngay thờ chúa, thảo thờ cha", "Ngựa cao tán cả", "Gác ngọc lầu vàng"...; trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca vẫn thấy có "Công danh chăng trọng - Phú quư chăng màng", "Tần Hán xưa kia", "Xẩy tỉnh giấc ḥe", "An thân lập mệnh"... Nói một cách khái quát, phẩm chất thi nhân ở Trần Nhân Tông thường trực hiện diện trong h́nh ảnh một hoàng đế - thi nhân (và đồng thời: một thi nhân - hoàng đế) bên cạnh h́nh ảnh một thiền sư - thi nhân (và đồng thời: một thi nhân - thiền sư)... Cũng như nhiều tâm hồn thi nhân khác, Trần Nhân Tông đặc biệt yêu mến mùa xuân, có thơ viết về sớm xuân, phong cảnh mùa xuân, đêm xuân tháng hai, cảnh cuối xuân và ngày xuân tặng bánh cho sứ giả. Cùng viết về mùa xuân nhưng có khi nhà vua nhập cuộc trong mối lo toan thế sự, nhắc đến điệu múa giá chi, món bánh rau trong lễ tiết tháng ba và đằng sau đó là ư thức khẳng định truyền thống văn hóa dân tộc:

Giá chi vũ băi thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,

Ṭng lai phong tục cựu An Nam.

(Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính)

(Múa giá chi rồi thử áo xuân,

Hôm nay hàn thực buổi thanh thần.

Bánh rau đầy đặn như hồng ngọc,

Nước Việt tục này theo cổ nhân)

(Ngày xuân tặng bánh cho Trương Hiển khanh

- Trần Lê Văn dịch)

Có khi Trần Nhân Tông ngỡ ngàng trước h́nh ảnh đôi bướm trắng và bản thân cảnh tượng đó đă làm nên một tứ thơ sinh động:

Thụy khởi khải song phi,

Bất tri xuân dĩ qui.

Nhất song bạch hồ điệp,

Phất phất sấn hoa phi.

(Xuân hiểu)

(Ngủ dậy, mở cửa sổ,

A, xuân về rồi đây!

Ḱa một đôi bướm trắng,

Nhằm hoa, phơi phới bay)

(Buổi sớm mùa xuân - Trần Lê Văn dịch)

Có khi trong cảnh cuối xuân, thi nhân ngẫm ngợi câu chuyện kiếp người, bâng khuâng suy nghiệm về lẽ sắc sắc không không. Vẫn là cảnh xuân, vẫn là trăm hoa năm nào đấy thôi nhưng dường như bây giờ nhà thơ mới nhận diện được bản chất sự sống, đạt đến tự tại, b́nh thản giữa cơi đời. Đó là sự trả giá bằng cả thời gian đời người, bằng sự nghiệm sinh trong cuộc sống, sự thức tỉnh và thức nhận bản chất lẽ sinh - tử, c̣n - mất, hữu - vô:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

Như kim kham phá đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

(Xuân văn)

(Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,

Xuân sang hoa nở rộn tơ ḷng.

Chúa xuân nay đă thành quen mặt,

Nệm cỏ ngồi yên ngó rụng hồng)

(Xuân muộn - Ngô Tất Tố dịch)

Bên cạnh việc đề vịnh cảnh chùa cơi Phật, Trần Nhân Tông c̣n có nhiều bài thơ ghi lại h́nh ảnh một cảnh quê Thiên Trường, Châu Lạng, một chiều thu Vũ Lâm, một lần lên núi Bảo Đài, một sớm xuân tàn nơi sơn pḥng non cao tịch mịch... Trong số này có những bài mà ngôn từ nghệ thuật thi ca đạt đến kiệt tác:

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,

Bán vô bán hữu tịch dương biên.

Mục đồng địch lư qui ngưu tận,

Bạch lộ song song phi hạ điền.

(Thiên Trường văn vọng)

(Thôn trước thôn sau tựa khói lồng,

Bóng chiều dường có lại dường không.

Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết,

C̣ trắng từng đôi liệng xuống đồng)

(Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường -

Ngô Tất Tố dịch)

Bài thơ như một bức tranh sống động về miền quê đồng bằng Bắc Bộ, ở đó có khói lam chiều, có sự chuyển giao giữa một ngày sôi động với chiều tà tĩnh lặng, có sự khuất vắng dần của bóng người và tiếp nối sức sống của thế giới tự nhiên, có không gian bóng chiều và âm hưởng tiếng sáo thanh b́nh, có hoạt cảnh lũ trẻ dắt trâu về cuối ngơ và c̣ trắng xuống đồng... Có thể nói kiệt tác Thiên Trường văn vọng xứng đáng là bài thơ mở đầu cho ḍng thơ đề vịnh làng cảnh thôn quê Việt Nam.

Mở rộng diện đề tài, Trần Nhân Tông không chỉ viết về cây mai, về hoa mai nở sớm, về gió trăng mà c̣n tập trung phản ánh nỗi ḷng người lính trên đường Tây chinh, cảm nhận được thế giới tâm linh Tuệ Trung Thượng sĩ, ghi nhớ h́nh bóng vua cha và các nhà sư ở chùa Phổ Minh. Đi xa hơn, Trần Nhân Tông tiếp tục bày tỏ niềm cảm thông với người khuê phụ:

Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng,

Hoàng ly bất ngữ oán Đông phong.

Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại,

Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông.

(Khuê oán)

(Tỉnh giấc rèm nâng ngó cánh hồng,

Hoàng oanh im tiếng giận Đông phong.

Lầu Tây vô cớ vầng dương lặn,

Cả bóng hoa cành ngả hướng Đông)

(Nỗi oán hận của người khuê phụ -

Trần Lê Văn dịch)

Thi nhân nhập thân cùng nỗi sầu khuê phụ, cô đơn trước một cánh hồng rơi rụng, một tiếng chim vừa dứt, một chiều hoàng hôn mặt trời khuất nẻo và đẩy bóng h́nh muôn vật cùng ngả về Đông. Đây cũng là một trong những bài thơ đầu tiên viết về người phụ nữ, khơi nguồn cho ḍng thơ phản ánh nỗi niềm người chinh phụ, cung nữ, thiếu phụ chờ chồng và bao kiếp đào hoa bạc mệnh giai đoạn sau này...

5. Thay lời kết

Trong lịch sử dân tộc, triều đại nhà Trần (1225-1400) nổi lên như một hiện tượng độc đáo gắn với sự kiện các hoàng đế đều lui về hậu trường làm Thái thượng hoàng, đều trở thành thiền sư và người ham chuộng Phật giáo, đồng thời cũng là những thi nhân nổi tiếng. Đây là mẫu h́nh tác gia độc đáo dựa trên nền tảng căn rễ cơ sở văn hóa thời đại Lư - Trần và không lặp lại(14). Trong số đó, danh nhân văn hóa Trần Nhân Tông chính là mẫu h́nh tác gia Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ tiêu biểu cho cả một thời đại huy hoàng. Trải qua sự chuẩn bị từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Tung, phải đến Trần Nhân Tông mới hội đủ điều kiện để định h́nh Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nội sinh trong nền văn hóa và Phật giáo dân tộc. Có thể coi triều Trần (Trần Nhân Tông nói riêng) là bước phát triển đỉnh cao của nhà nước quân chủ Phật giáo. Nối tiếp vương triều Trần, từ thời Minh thuộc và Lê Sơ, lịch sử xă hội Đại Việt chuyển sang trang mới với sự thắng thế căn bản của mô h́nh quân chủ Nho giáo và xuất hiện loại h́nh tác gia hoàng đế kiểu mới1

Hà Nội, 2008

____________

(1) Nguyễn Hữu Sơn: Trần Nhân Tông - vị hoàng đế, thiền sư, thi sĩ. Nhân dân, số ra ngày 22-2-2008, tr.5.

(2) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.57.

(3) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.61.

(4) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.73.

(5) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.90-91.

(6) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.68.

(7) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb KHXH, H, 1998, tr.70-71.

(8) Xin xem Trần Ngọc Vương: Mẫu h́nh hoàng đế và con đường t́m kiếm sự thể hiện bản ngă trong triết học và văn học khu vực Đông, trong sách Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam. Nxb Giáo dục, H, 1997, tr.53-70.

(9) Thơ văn Lư - Trần, Tập II, Quyển thượng. Nxb KHXH, H, 1988. Các trích dẫn thơ Trần Nhân Tông trong bài đều theo sách này.

(10) Tam tổ thực lục (Thích Phước Sơn dịch, chú). Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Xb, TP Hồ Chí Minh, 1995, tr.17-36.

(11) Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Về mô típ "qui tịch" của các thiền sư, trong sách Lọai h́nh tác phẩm Thiều uyển tập anh. Tái bản. Nxb KHXH, H, 2003, tr.87-106.

(12) Nguyễn Lang: Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm, trong sách Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I. In lần thứ tư. Nxb Văn học, H, 1994, tr.355-397.

(13) Thích Thanh Từ: Hai quăng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm. Nxb Tôn giáo, H, 2002, tr.5-6.

(14) Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Căn rễ văn hóa của nền văn học thời Lư - Trần, trong sách Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX, những vấn đề lư luận và lịch sử. Nxb Giáo dục, H, 2007, tr.77-98.


Ừ th́! Mọi ngóc nghách t́nh yêu có thể anh đă từng đi qua,
Anh cũng đă từng khóc, từng say đắm và cũng từng nông nổi.
Đến một lúc trái tim chai sạn trước những vết thương,
Anh lại trở về là chính anh, cái cậu bé ngốc nghếch ...
Thích tự đi t́m cho riêng ḿnh một t́nh yêu ảo ảnh.
Chỉ xin em đừng là gió, gió rồi cũng sẽ bay đi.
Em đừng là loài chim - đến một ngày sẽ t́m về phương trời khác.
Em đừng là con sóng - êm đềm...say đắm rồi...tan vỡ.
Cũng đừng là cơn mưa ướt hết lối anh về.
Em đừng là ǵ cả ...v́ em là tất cả trong anh !


Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.