Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Sự lên ngôi của cái Tôi - Cá thể; Nguyễn Công Trứ
Topic Started: Jul 7 2010, 10:10 AM (510 Views)
TheBlackSun
Member Avatar
Administrator
Cái Tôi - cá thể, hay là con người - cá nhân, hay con người - cá thể, hay cái Thằng Tôi tương ứng trong tiếng Pháp I'individu, Le Moi, là vấn đề, là đối tượng nhận thức của triết học và đối tượng khám phá của văn học vốn đă diễn ra không đơn giản, không đồng đều giữa các quốc gia, các khu vực, giữa phương Tây và phương Đông trong lịch sử nhân loại. Có thể nói, ở nước ta, cho đến hôm nay, vấn đề rất có ư nghĩa này trong sự sống, về cơ bản, chưa được nhận thức ở độ tường minh cần thiết, không chỉ với số đông, mà ngay ở nhiều bậc thức giả. Mặc dù, trong một số văn kiện gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam đă có được quan niệm "Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của xă hội"(1)...

Sự nhận thức về cái tôi - cá thể bao gồm hai trạng thái: tự phát và tự giác, vô thức và hữu thức. Hữu thức phiến diện và hữu thức toàn diện. Với trạng thái tự phát, vô thức th́ hễ có loài người và có ngôn ngữ là có cái Tôi, từng được thể hiện trong từ vựng của mọi ngôn ngữ trên thế giới, bằng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất. Trong tiếng Việt của ta các từ: tôi, ta, tớ, tao, ḿnh và các từ Hán Việt: "ngô", "ngă", đều thuộc cái Tôi tự phát này. Chúng chưa thuộc vấn đề cái Tôi cá thể của triết học và văn học đang được nói đến. Chỉ với cái Tôi được nhận thức tự giác, hữu thức mới là vấn đề của triết học và văn học. Ở đây, cái Tôi vừa là chủ thể, vừa là khách thể trong nhận thức. Cái Tôi không chỉ thuộc cá thể ḿnh mà c̣n là cá thể người khác. Nó là một khách thể cần được nhận thức, khám phá. Quan trọng nữa là cần được tôn trọng, tạo mọi điều kiện cho nó phát triển để trở thành tế bào khoẻ cho mọi cơ thể khoẻ. T́nh trạng nhận thức, phát hiện về cái Tôi mang tính khách thể này trong lịch sử thế giới đă diễn ra không đồng bộ. Có thể nói phương Tây đă đi trước phương Đông ở sự nhận diện cái Tôi - cá thể. Trong văn học La Mă cổ đại, thấp thoáng đă thấy bóng dáng cái Tôi - cá thể. Đặc biệt, đến thời đại Phục hưng của phương Tây, cái Tôi - cá thể, con người - cá thể đă trỗi dậy một cách bề thế, trong đó cái Tôi - trí tuệ, lư trí, sáng tạo trở thành điểm nhấn, từ đó đă tạo nên một nền văn hoá Phục hưng vĩ đại được nhân loại muôn đời bái phục. Mệnh đề "Tồn tại hay không tồn tại" (To be or not to be) mà nhân vật Hamlet của Shakespeare phát ngôn từng được coi là lời tuyên ngôn có ư nghĩa triết học về cái Tôi - cá thể, về con người - cá thể, của thời đại Phục hưng. Sau thời Phục hưng, với các nhà tư tưởng của công cuộc cách mạng tư sản phương Tây. cái Tôi - cá thể lại thêm một lần được khẳng định. Mệnh đề "Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại" (Je pense donc je suis) của Descartes cũng được coi là lời tuyên ngôn triết học thứ hai về sự có mặt của cái Tôi - cá thể, với ư nghĩa nhân văn cao cả, vĩnh hằng. Sự xuất hiện của cái Tôi - cá thể ở phương Tây, từng được cắt nghĩa từ nguồn gốc là vai tṛ của tầng lớp chủ nô công thương ở thời cổ đại và vai tṛ của tầng lớp thị dân tiền tư bản chủ nghĩa và tiếp đó là vai tṛ của giai cấp tư sản đang ở giai đoạn cách mạng. Vận mệnh của cái Tôi - cá thể đúng là gắn liền với nền sản xuất kinh tế hàng hoá, công thương, với giai cấp tư sản thế giới ở cả hai chiều: tích cực và tiêu cực. Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, ngoài ư nghĩa phần nào là sản phẩm của nhân tính, c̣n là đặc sản của chủ nghĩa tư bản sau thời kỳ cách mạng. Tất nhiên, tại các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa hiện tại cái Tôi - cá thể mang giá trị nhân văn cao cả vẫn tồn tại, bởi đó là sản phẩm tinh thần đă trở thành truyền thống, có độ bền của nhân dân, của các dân tộc đó, nhất là ở những nước đang đi theo chủ nghĩa xă hội dân chủ.

C̣n ở phương Đông, nh́n chung cái Tôi - cá thể đă chậm được phát hiện so với phương Tây. Mặc dù, ở thời cổ đại Trung Hoa, với Lăo tử, sự xuất hiện ư tưởng "mỗi con người là một tiểu vũ trụ" (nhân thân tiểu thiên địa). Chỉ tiếc rằng ư tưởng vĩ đại đó đă không được tiếp nối, triển khai mà lại nhường chỗ cho quan niệm vô ngă, phi ngă trong hầu hết các học thuyết, tiêu biểu là Nho giáo, Phật giáo chiếm ngự. Do đó mà cái Tôi - cá thể đă không trỗi dậy được. Có lẽ chính nền văn minh nông nghiệp, trong đó kinh tế hàng hoá, kinh tế công thương chậm phát triển, chính phương thức sản xuất châu Á mà K. Mác nói đă không tạo điều kiện cho cái Tôi - cá thể trỗi dậy. Ở Trung Hoa phải đợi đến thời đại Minh Thanh, một khi nền kinh tế công thương phát triển, các đô thị phát triển, tầng lớp thị dân đông đảo hẳn lên, th́ mới thấy cái Tôi - cá thể xuất hiện. Đặc biệt là trong một số tiểu thuyết cổ điển.

Ở Việt Nam, t́nh h́nh cũng nằm trong t́nh trạng chung đó của phương Đông. Cứ nh́n vào lịch sử văn học vốn là sinh địa của thế giới con người th́ sẽ thấy vấn đề là thế nào. Đến với văn học trung đại trong giai đoạn thượng kỳ (trước thế kỷ XVIII), có người do thấy trong văn chương, đặc biệt là thơ, có nhiều chữ "ngô", chữ "ngă" đă tưởng lầm đó là sự xuất hiện của cái Tôi - cá thể. Cũng như đă lầm lẫn, đồng nhất cái tôi trữ t́nh vốn là sản phẩm đặc trưng trong thơ ca với vấn đề cái Tôi - cá thể thuộc phạm vi triết học mà cho rằng: hễ có văn học là có cái Tôi. Trong khi vấn đề cái Tôi - cá thể với nội hàm như nói ở trên, th́ đến giai đoạn văn học thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mới có mặt qua tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Phạm Nguyễn Du, Ngô Th́ Sĩ và một trường hợp không thể quên là Nguyễn Công Trứ. Sự xuất hiện cái Tôi - cá thể đă là một thành tố đặc sắc làm nên đặc trưng của chủ nghĩa nhân bản của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Bộ mặt của cái Tôi - cá thể trong buổi đầu này khá xinh xắn, hấp dẫn, có giá trị nhân văn rất mực cao cả. Ở đây có sự kết hợp khá hài hoà giữa cái Tôi - cá thể và cái Ta. Thuư Kiều của Nguyễn Du là một biểu tượng nghệ thuật kết tinh tuyệt vời của cái Tôi - cá thể mang ư nghĩa nhân bản cao đẹp đó. Từ giữa thế kỷ XIX, đất nước bị xâm lăng, vấn đề cái Tôi - cá thể nói chung đă phải nhường chỗ cho vấn đề số phận dân tộc. Măi sang đầu thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau 1930, trong điều kiện xă hội thực dân nửa phong kiến đă định h́nh, ảnh hưởng ư thức hệ tư sản phương Tây đă tràn ngập ở tầng lớp trí thức tân học, cái Tôi - cá thể lại xuất hiện, chủ yếu là qua sáng tác của Tư lực văn đoàn và phong trào Thơ mới. Sự tái xuất hiện cái Tôi - cá thể ở đây đă mang ư nghĩa giải phóng, giành lại quyền sống cho con người - cá thể trước sự ḱm hăm, chiết toả của lễ giáo phong kiến và những hủ tục cổ truyền. Nó cũng là sự giải phóng cho cái Tôi sáng tạo, cái Tôi cảm xúc trữ t́nh trong văn học nói chung, trong thơ ca nói riêng. Trong phê b́nh văn học, Hoài Thanh có được tác phẩm Thi nhân Việt Nam mà ngày nay qua những bước thăng trầm do thời tiết nhận thức văn học gây nên, đă trở lại b́nh yên để được phong thánh - xét cho cùng chính là thành tựu của công việc đỡ đẻ cho cái Tôi - cá thể, vốn là cơ sở tạo nên phong trào Thơ mới, được coi là một cuộc cách mạng của thơ ca Việt Nam. Tất nhiên, cái Tôi - cá thể trong văn học thời kỳ này đă không tránh khỏi hạn chế bởi thiếu một tŕnh độ nhận thức triết học vững chăi, và cũng thiếu một độ kết hợp hài hoà tối ưu với cái Ta. Có thể nói: cái Tôi - cá thể ở giai đoạn văn học này tuy bề thế hơn nhưng không bằng giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX do thiếu độ cao kết hợp hài hoà giữa cái Tôi với cái Ta. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Đất nước chưa kịp hưởng cảnh thanh b́nh, kiến thiết th́ đă đương đầu với hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ. Trong hoàn cảnh đó, theo quy luật Việt Nam, cái Tôi - cá thể lại phải nhường chỗ cho vấn đề số phận dân tộc. Nhưng từ sau 1975, chiến tranh đi qua, đặc biệt từ khi có không khí đổi mới toàn diện của đất nước, trong văn học, cái Tôi - cá thể lại tái xuất. Trong đó, phần thuộc về giá trị nhân văn chân chính không phải không có, nhưng phần phi nhân bản cũng không phải không rơ. Bởi lẽ, ở đây, với những người cầm bút, sự hạn chế trong nhận thức về vấn đề cái Tôi - cá thể trong sự sống loài người theo yêu cầu triết học đă là một sự thật đáng suy nghĩ.

*

Những ǵ tŕnh bày trên đây về cái Tôi - cá thể, con người - cá thể có thể nói là vừa thừa vừa thiếu. Thừa là với ai không muốn, không quen nghĩ đến vấn đề. C̣n thiếu là với ai đă thấy vấn đề là phức tạp. Dầu vậy, đây vẫn là điều cần thiết cho việc nhận diện Nguyễn Công Trứ: sự lên ngôi của cái Tôi - cá thể, một hiện tượng nổi trội, hiếm lạ so với lịch sử đương thời, kể cả với hôm nay, vẫn c̣n nhiều điều làm chúng ta phải suy nghĩ trước vấn đề: CON NGƯỜI LÀ G̀ vốn là vấn đề lớn nhất của triết học, dù đă có bao nhiêu sự khám phá, nhưng vẫn măi măi không bao giờ có sự chấm dứt khám phá.

Nguyễn Công Trứ quả không phải là một anh hùng cứu quốc lớn như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung...; một nhà tư tưởng lớn như Trần Nhân Tông, Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông...; một học giả lớn như Lê Quư Đôn, Phan Huy Chú...; một nhà văn thiên tài cỡ Nguyễn Du... nhưng Nguyễn Công Trứ là sự lên ngôi của cái Tôi - cá thể hiếm và trội mà khoa học nhân văn, khoa học về con người cần khám phá. Và muốn khám phá, trước hết phải có triết học, phải vượt qua những giới hạn ít nhiều đă định h́nh từng cản trở cách nghĩ về thế giới con người, về bảng giá nhân cách.

Ở Nguyễn Công Trứ, người với văn là một - Trông văn càng thấy người. Hiểu người càng hiểu văn. Với Nguyễn Công Trứ, vấn đề “Tồn tại hay không tồn tại” đă có đáp án dơng dạc: "Ông Hy văn tài bộ đă vào lồng", có nghĩa đă tuyên bố: tôi tồn tại. Tôi có kiếp đời của tôi, cũng như người khác có kiếp đời của người khác bởi "Kết cục lại một người riêng một kiếp" (Nghĩa người đời) và "Người có biết ta hay th́ chớ/ Chẳng biết ta, ta vẫn là ta" (Thích chí ngao du) và "Thiên phú ngô, địa tái ngô/ Thiên địa sinh ngộ nguyên hữu ư" (Trời che ta, đất chở ta/ Trời đất sinh ta là có ư - (Nợ công danh). Trong văn thơ của Nguyễn Công Trứ (Được in trong "Thơ văn Nguyễn Công Trứ" - Trương Chính biên soạn và giới thiệu - NXB Văn học 1983) có 34 đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: ngô, ngă, ḿnh, ta, tao... Có thể nói không đâu trong phạm vi văn thơ của các tác giả trung đại có mật độ cao về từ đại nhân xưng ngôi thứ nhất như thế. Điều đó, chứng tỏ ở Nguyễn Công Trứ, nội hàm của các từ đó đă khác trước. Khác ở chỗ nhận thức tự phát chuyển lên nhận thức tự giác, tự ư thức về cái Tôi - cá thể của chính ḿnh giữa cơi nhân gian. Mà sự tồn tại của cái Tôi - cá thể ở đây là sự tồn tại ra tồn tại. Tồn tại hết ḿnh - hết ḿnh trong phận sự của một cá thể sống với cuộc đời, với nhân quần, hoàn toàn khác về bản chất của cái Tôi - cá thể vị kỷ: "Vũ trụ chi gian giai phận sự"(Giữa vũ trụ này đều có phận sự - Luận kẻ sĩ), "Vũ trụ chức phận nội, "Đấng trượng phu một túi kinh luân" (Việc trong vũ trụ đều là chức phận của ta - Gánh trung hiếu), "Vũ trụ nội mạc phi phận sự" (Trong vũ trụ không có chuyện ǵ là không phải phận sự - Bài ca ngất ngưởng). Phận sự trên cương vị một kẻ sĩ: "Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt/ Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên/ Có giang san th́ sĩ đă có tên/ Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quư!" (Luận kẻ sĩ). Là kẻ sĩ lại muốn thành trượng phu th́ với Nguyễn Công Trứ trước hết vẫn phải học hành để thi cử. Thi th́ phải đậu. Dù đă 36 tuổi mới đậu tú tài. Nhưng tú tài rồi c̣n phải cử nhân dù tuổi đă 42. Mà cử nhân lại phải giải nguyên. Đâu chịu thua ai. Nguyễn Công Trứ làm quan, thăng chức cũng nhanh và làm đủ loại quan. Nhưng thăng trầm th́ chẳng có ai như Nguyễn Công Trứ. Những 5, 6 lần bị tố cáo, bị giáng chức. Thảm nhất là đă leo đến Tham tri bộ H́nh, Tổng đốc Hải An, Thượng thư bộ H́nh mà bị án "trảm giam hậu", mà bị cách tuột làm lính thú. Với người khác, gặp cảnh ngộ đó sẽ thế nào. Với Nguyễn Công Trứ, vẫn không nản, vẫn không chịu nằm bẹp xuống giữa cuộc đời. Đó là ǵ? Nếu không nhờ có cái Tôi tự tin, cái Tôi đă sống quyết ra sống, đă "vào lồng" quyết vào đến nơi đến chốn. Cái Tôi Nguyễn Công Trứ là cái Tôi hành động. Trong hành động, có sai, có đúng. Nhưng động cơ chỉ một: cống hiến cho đất nước, cho đời. Trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ, có hai hành động nổi trội, đầu bảng. Một là khẩn hoang trong vai tṛ một ông quan doanh điền sứ, dựng lên hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải và mấy xă thuộc Nam Định. Xong chuyện, phủi tay ra đi, không mảy may tơ vương. Nhưng được nhân dân ở đây muôn đời thờ cúng. Không chỉ với người bên lương, mà cả người bên giáo vốn không có việc thờ cúng này. C̣n sau này th́ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy tôn là một nhà "khẩn hoang lỗi lạc". Hai là làm ông tổ và cũng là ông vua của thể loại hát nói trong lịch sử văn học dân tộc, một khi nó đă có mầm mống từ trước nhưng phải đến cái tài, cái t́nh, cái triết lư nhân sinh của Nguyễn Công Trứ, nó mới định h́nh, mới có giấy chứng sinh. Trong hành động của Nguyễn Công Trứ có chuyện đàn áp các cuộc nông dân khởi nghĩa của Lê Duy Lương, của Phan Bá Vành, của Nùng Văn Vân, mà đến thời đại Mác Xít, đă coi đó là sai lầm, tội lỗi. Nhưng sự lên án này đă là tiếng nói cuối cùng chưa một khi có thể nghĩ khác, nghĩ đến yêu cầu ổn định của đất nước, của cuộc sống xă hội, tựa như những chuyện đă xảy ra và cách giải quyết của Chính phủ ta từng xảy ra trên đất nước hôm nay, trong đó có chuyện ở Thái B́nh, cách đây chưa lâu.

Rơ ràng là con người - cá thể Nguyễn Công Trứ đă tự ư thức về ḿnh rằng: đă sống là phải ra sống. Không làng nhàng, không nhợt nhạt, không nửa vời, không uể oải, không chán chường, không cầm chừng... Kể cả không "độc thiện kỳ thân", không là "xuất xử, hành tàng" mà Nho giáo đă dạy. Nguyễn Công Trứ là một nho sĩ nên vẫn phải "Thượng vi đức hạ vi dân/ Sắp hai chữ quân thân mà gánh vác/ Có trung hiếu nên đứng trong trời đất..." (Gánh trung hiếu) nhưng là có triết lư. Trong triết lư, có lư tưởng. Với Nguyễn Công Trứ, lư tưởng đó là chí làm trai, là chí và nợ tang bồng: "Thông minh nhất nam tử/ Yếu vi thiên hạ kỳ/ Trót sinh ra thời phải có chi chi/ Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu/ Đố kỵ sá chi con tạo/ Nợ tang bồng quyết trả cho xong/ Đă xông pha bút trận th́ gắng gỏi kiếm cung/ Làm cho rơ tu mi nam tử...". (Nam nhi). Chí nam nhi, hay nợ tang bồng vốn là sản phẩm của học thuyết Nho giáo. Ở Việt Nam, từ thời nhà Trần, Phạm Ngũ Lăo đă thẹn về nợ làm trai của ḿnh: "Nam nhi vĩ liễu công danh trái/ Tu thỉnh nhân gian thuyết Vũ hầu" (Công danh nam tử c̣n vương nợ/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu). Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu trong buổi lưu biệt xuất dương Đông du cứu nước cũng nói đến chí nam nhi, nam tử: "Sinh vi nam tử yếu hi kỳ/ Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di" (Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời). Đều là chí nam nhi cả, nhưng điều kiện đất nước và cá nhân đă hướng mỗi cá nhân tới một nội dung khác nhau. Với Nguyễn Công Trứ từ chí nam nhi đó mà có cuộc đời với những hành động như mọi người đă thấy. Trong đó có chuyện khẩn hoang để được tôn vinh là "lỗi lạc", có chuyện sáng tác thể thơ hát nói để được mệnh danh là ông tổ, ông vua.

Ở Nguyễn Công Trứ, chí nam nhi c̣n được đẩy lên cao thành "chí anh hùng"! "Ṿng trời đất dọc ngang ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả trả vay/ Chí làm trai nam bắc đông tây/ Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể/ Nhân sinh thế thượng thùy vô tử/ Lưu đắc đan tâm chiếu hăn thanh/ Đă chắc rằng ai dại, ai khôn/ Mấy kẻ biết anh hùng thời vĩ ngộ/ Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ/ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong/ Chí những toan xé núi lấp sông/ Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ" (Chí khí anh hùng).

Ở Nguyễn Công Trứ chí nam nhi, chí anh hùng gắn với chữ danh: "Đă mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh ǵ với núi sông" (Đi thi tự vịnh), "Không công danh thời nát với cỏ cây". Điều cần nói là ở đây, chữ "danh" gắn liền với chữ "thân", với chữ "công", "Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp/ Xuất mẫu hoài tiện thi hữu quân thân/ Mà chữ danh liền với chữ thân/ Thân đă có ắt danh âu phải có" (Nghĩa người đời). Với ông, "danh" không đi liền với "lợi". Bởi "Ra trường danh lợi vinh liền nhục" (T́nh cảnh làm quan), "Lợi danh đường nhục cũng nên kinh" (Vui cảnh nghèo). Tốt nhất là phải xa lợi danh, danh lợi: "Chẳng lợi danh chi lại hoá hay" (Tự thuật), mặc cho người đời vẫn bám lấy lợi danh: "Thuỳ năng thế thượng vong danh lợi/ Tiên thị nhân gian nhất hoá công" (Ở đời ai mà quên được danh lợi. Ấy bởi ông trời sinh ra loài người là thế - Quân tử cố cùng). Quả là ở Nguyễn Công Trứ, chữ "danh" có nội hàm riêng và tầm vóc riêng gắn với núi sông, với đất trời, với "công nghiệp" - với sự cống hiến, với sự lên ngôi của cái Tôi - cá thể Nguyễn Công Trứ.

Ở Nguyễn Công Trứ, c̣n một điều đáng nói lại bởi nó cũng là điều hiếm. Đó là ư thức "cậy tài", "khoe tài", "Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi" (Cầm kỳ thi tửu), "Lúc tuổi xanh chi khỏi cậy tài" (Con tạo ghét ghen). Tài là một giá trị nhân bản cao quư và hiếm. Nhưng thái độ người xưa đối với chữ "tài"cũng thành vấn đề. Thường là có hiện tượng dấu tài v́ sợ nói ra bị cho là kiêu ngạo, tự cao, tự đại. Ngay với Nguyễn Du th́ chữ "tài" vẫn đặt thấp dưới chữ "tâm": "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" và sợ cho chuyện tài mệnh tương đố: "Trăm năm trong cơi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau", "Có tài mà cộng chi tài/ Tài t́nh chi lắm cho trời đất ghen". Với Nguyễn Công Trứ th́ khác. Có tài cứ "khoe tài", "cậy tài" để thêm tự tin, thêm quyết tâm vươn tới trong hành động v́ ḿnh và cũng v́ cuộc đời. Cho nên Nguyễn Công Trứ đă không dấu tài, đă không sợ trời đất ghen tài mà c̣n gắn tài với t́nh và dơng dạc tuyên bố: "Thế nhân mạc oán tài t́nh luỵ/ Không tài t́nh quang cảnh có ra chi" (Tài t́nh), "Càng tài tử càng nhiều t́nh ái" (Vịnh sầu t́nh). Đúng là dưới chế độ phong kiến Việt Nam xưa, và không khéo cả với thời nay, không ai cậy tài, khoe tay và ngây ngất với tài t́nh như Nguyễn Công Trứ.

Với Nguyễn Công Trứ, riêng chữ "t́nh" cũng thành một khoản phong phú, ph́ nhiêu hiếm có mà bản chất chính là sống theo quy luật tự nhiên mà tạo hoá đă ban cho loài người. Ông định nghĩa, giới thuyết chữ t́nh: "Cái t́nh là cái chi chi/ Dẫu chi chi cũng chi chi với t́nh/ Đa t́nh là dở/ Đă mắc vào đố gỡ cho ra... Càng tài t́nh càng ngốc càng si/ Cái t́nh là cái chi chi" (Vịnh chữ t́nh). Ông đùa với t́nh: "Tao ở nhà tao tao nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói răng không đến/ Đến th́ mi nói đến làm chi/ Làm chi tao đă làm chi được/ Làm được th́ tao đă làm đi..." (Bỡn t́nh nhân). Ông cũng có phen phải sầu t́nh "Sầu ai lấp cả ṿng trời/ Biết chăng chẳng biết hỡi người t́nh chung/ Xuân sầu mang mang tắc thiên địa/ Giống ở đâu vô ảnh vô h́nh/ Cứ ṭ ṃ quanh quẩn bên ḿnh/ Khiến ngẩn ngẩn ngơ ngơ đủ chứng" (Vịnh sầu t́nh). Nguyễn Công Trứ là con người hành động, chăm lo phận sự, nhưng đồng thời không quên chữ nhàn mà gần ba thế kỷ trước Nguyễn B́nh Khiêm đă hăng hái đề xướng. Nay đến ông lại muốn nâng cấp lên tầm triết lư: "Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt tại môn hạ nhàn/ So lao tâm lao lực một đàn/ Người nhân thế muốn nhàn sao được/ Nên phải giữ lấy nhàn làm chước/ Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài tri nhàn tiện nhàn, đăi nhàn hà thị nhàn chữ nhàn là chữ làm sao" (Chữ nhàn), "Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu/ Trầm tư bách kế bất như nhàn" (Muốn quên sự đời chỉ có rượu/ Suy nghĩ trăm kế không bằng nhàn - Vịnh Nhàn), "Cơn chếnh choáng vần trời đất lại/ Chốc ngâm nga xáo lộn cổ kim đi/ Cái công danh là cái chi chi/ Quư nhân tướng bất như nhàn nhân quư" (Nhàn nhân với quư nhân). Với Nguyễn Công Trứ, hành lạc cũng đă trở thành triết lư cuồng nhiệt. Ông có một bài thơ không biết nhan đề do ông tự đặt hay do đời sau làm sách đặt là "Đánh thức người đời" trong đó có hai câu mà có lẽ đến hôm nay, không ít thuộc lớp người có tuổi hẳn là phải kinh ngạc. Đó là: "Nhân sinh bất hành lạc/ Thiên tuế diệc vi thương" (Người sống ở đời mà không hưởng lạc - Th́ có thọ đến ngh́n tuổi cũng coi như chết yểu). Quả là Nguyễn Công Trứ đă say sưa với hành lạc chẳng kém ǵ say sưa với phận sự, với công nghiệp. Bởi với ông, chuyện ǵ mà chẳng hết ḿnh. Đến nay, nhiều cụ già ở Kim Sơn, Tiền Hải vẫn c̣n kể chuyện: Nguyễn Công Trứ hồi làm doanh điền sứ, ngày th́ xông pha, năng nổ với công việc khẩn hoang, đêm th́ ch́m đắm trong điệu phách câu ca với các ả đào non xinh đẹp. Rồi chuyện Nguyễn Công Trứ, lúc tuổi đă ngoài bảy mươi, lên chơi chùa Hương Tích trên núi Ngàn Hống gần nhà, vẫn đem theo "một đôi d́", mà chính ông đă ngang nhiên kể lại trong Bài ca ngất ngưởng: "Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi d́/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"...

Riêng trong văn chương, trước Nguyễn Công Trứ, có lẽ không ai, kể cả Tản Đà về sau, có độ cuồng nhiệt với triết lư hành lạc như ông: "Sách có chữ nhân sinh thích chí/ Đem ngàn vàng chác lấy cuộc cười/ Chơi cho lệch mới là chơi/ Chơi cho đài các cho người biết tay" (Cầm kỳ thi tửu, II), "Nợ tang bồng hẹn khách thiếu niên/ Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phí chí" (Cầm kỳ thi tửu, III), "Lần lựa tiết xuân dương có mấy/ Bóng quang âm chơi lấy kẻo già/ Trăm năm trong cơi người ta/ Xóc sổ tính ngày chơi đă được mấy" (Trong trần mấy mặt làng chơi), "Hạn lấy tuổi để mà chơi lấy/ Cuộc hành lạc bao nhiêu là lăi bấy/ Nếu không chơi thiệt lấy ai bù/ Nghề chơi cũng lắm công phu" (Chơi xuân kẻo hết xuân đi)...

Với Nguyễn Công Trứ, chơi, hành lạc là đủ thứ: có t́nh, có cầm, kỳ, thi, tửu đă đành. C̣n có thú thiên nhiên với trăng gió, cỏ hoa, với "Liễu tía đào hường mai trắng trắng/ Lan tươi huệ tốt lư xanh xanh/ Thêm hương khi gió lá mưa cành/ Mở mặt thấy giang sơn cười chúm chím... Trân trọng lấy hương trời cho trọn vẹn/ Hoa với khách như đà có hẹn/ Ưa màu nào màu ấy là xinh/ Trăm hoa cùng bẻ một cành" (Yêu hoa).

Nguyễn Công Trứ với triết lư hành lạc như thế, quả thật là một sự táo bạo, cũng có thể nói là đi trước thời đại. Bởi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam xưa mà ảnh hưởng chưa phải đă chấm dứt với nhiều người thời nay th́ vấn đề hành lạc vẫn là vấn đề không đơn giản, bởi một khi con người từng được Nho giáo dạy bảo "khắc kỷ phục lễ" (phải thắng ḿnh để tuân theo lễ), từng được Phật giáo khuyến khích diệt dục để diệt khổ. Khác với phương Tây, ngay từ thời cổ đại Hy Lạp, chủ nghĩa hành lạc (épicurisme) của Épicure đă được coi là tiến bộ, là có giá trị nhân văn, không có ǵ mâu thuẫn với đạo đức. Trong cuộc sống quả đă có hai thứ hành lạc. Một thứ hành lạc nhân văn chân chính. Một thứ hành lạc thú tính, đê hèn. Triết lư hành lạc và nội dung hành lạc của Nguyễn Công Trứ thuộc trường hợp thứ nhất. Chính ông đă nói rơ điều đó: "Tế suy vật lư tu hành lạc/ An dụng phù danh bạn thử thân/ Song bất nhân mà lại chí nhân" (Xét kỹ th́ ở đời nên ăn chơi/ Sao nỡ để công danh trói buộc thân ḿnh/ Nói là không nhân đạo nhưng chính là rất nhân đạo - Chơi xuân kẻo hết xuân đi). Ông không từ chối hành lạc đă đành, mà ngược lại c̣n khuyến khích "tu hành lạc" (nên hành lạc) v́ theo ông đó là "chí nhân" (hết sức nhân đạo), nên cần "Đánh thức người đời", bởi họ từ lâu rồi chưa biết hưởng cái hạnh phúc trần gian đó. Dĩ nhiên đây là người đời Việt Nam chứ đâu phải người đời dưới trời Âu. Riêng tôi th́ thấy thời gian đă và đang ủng hộ Nguyễn Công Trứ và ở phương diện này, trong hoàn cảnh xă hội Việt Nam xưa, coi ông là người có tư tưởng hiện đại không phải là không có lư. Tôi c̣n muốn nói thêm về mối nhân duyên giữa nhà triết lư hành lạc Nguyễn Công Trứ và ông tổ, kiêm ông vua hát nói Nguyễn Công Trứ. Như đă biết, hát nói là một thể loại đặc biệt ở tính chất tổng hợp, nguyên hợp giữa các thành tố: văn chương, thanh nhạc, vũ đạo và sắc dục đang ở độ tinh khiết, thanh tao. Thưởng thức hát nói chính là thưởng thức thành quả nghệ thuật nguyên hợp đó, đúng là cha ông ta thuở trước, trong đó nổi lên có Nguyễn Công Trứ đă quá thông minh, quá tài giỏi, quá khôn trong việc sáng tạo ra thể hát nói để hưởng thụ một cách phi Nho, phi Phật nhưng rất nhân bản, rất người, rất nghệ thuật trong cuộc sống trần gian dưới chế độ phong kiến khắc nghiệt. Nguyễn Công Trứ nếu không có nồng độ đắm say với triết lư hành lạc đó th́ làm ǵ trở thành ông tổ, ông vua của thể loại hát nói trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Nói đến cái Tôi - cá thể Nguyễn Công Trứ lại cũng không thể bỏ quên cái ngất ngưởng, cái ngông của ông. Trong cuộc sống loài người, ngông hay ngất ngưởng cũng có hai trạng thái. Một là đáng ghét. Một lại đáng yêu. Nguyễn Công Trứ và sau ông là Tản Đà, thuộc trạng thái đáng yêu, đáng kính. Bởi ở đây, ngông, hay ngất ngưởng thực chất là một h́nh thức tồn tại đặc biệt của nhân phẩm cao đẹp. Ngông, ngất ngưởng là khác người. Nhưng khác ở chỗ xa lạc với sự tham lam, nịnh hót, xỏ xiên, thủ đoạn, bần tiện... Ngược lại là điệu sống nhân bản hơn, người hơn và cũng triết lư hơn dù trong một h́nh thức không b́nh thường. Đọc kỹ lại Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, sẽ thấy rơ điều đó.

*

Nguyễn Công Trứ không phải là một đại anh hùng cứu quốc, một nhà tư tưởng lớn, một học giả lớn, một thiên tài văn chương số I, một nhà đại cách mạng nhưng ở Nguyễn Công Trứ là "sự lên ngôi của cái Tôi - cá thể" hiếm và trội mang giá trị nhân bản chân chính cho dù trong thực tế nó vẫn không thoát khỏi bi kịch của trần gian. Những điều được dẫn giải như trên hy vọng sẽ được khoa học nhân văn nước nhà chấp nhận. Nếu đúng thế th́ tôi cầu nguyện cho đất nước hôm nay và mai sau có được nhiều Nguyễn Công Trứ theo tinh thần tiếp thu có phát triển trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn và tường minh hơn về con người - cá thể trong sự sống nhân quần với những nội dung phong phú cao đẹp và cần thiết của nó trong đó có tư duy cá thể mà Descartes đă khởi xướng bên trời Âu từ thế kỷ XVII nhưng chính là của chung cho nhân loại trong muôn đời1

Yên Hoà thư trai

______________

(1) Đă có một chương tŕnh Khoa học quốc gia có mă số KX-07 do Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm với nhan đề này.



Ừ th́! Mọi ngóc nghách t́nh yêu có thể anh đă từng đi qua,
Anh cũng đă từng khóc, từng say đắm và cũng từng nông nổi.
Đến một lúc trái tim chai sạn trước những vết thương,
Anh lại trở về là chính anh, cái cậu bé ngốc nghếch ...
Thích tự đi t́m cho riêng ḿnh một t́nh yêu ảo ảnh.
Chỉ xin em đừng là gió, gió rồi cũng sẽ bay đi.
Em đừng là loài chim - đến một ngày sẽ t́m về phương trời khác.
Em đừng là con sóng - êm đềm...say đắm rồi...tan vỡ.
Cũng đừng là cơn mưa ướt hết lối anh về.
Em đừng là ǵ cả ...v́ em là tất cả trong anh !


Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.