| Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit. You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free. Join our community! If you're already a member please log in to your account to access all of our features: |
- Pages:
- 1
- 2
| Trong Rừng Nho; Ngô Tất Tố | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jul 29 2006, 08:42 AM (815 Views) | |
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:42 AM Post #1 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Sau khi để lại Kẽm Trống tám câu thơ nôm, Xuân Hương và Thận Trung lại nghênh ngang đôi ṿng, theo đường thiên lư vào phủ Trường An. Chừng bốn, năm ngày tới bến đ̣ Dán, th́ trời đă chiều, mặt trời lùi xuống phía Tây, trên dăy rừng Ngang, phủ một làn mây đỏ ối. Bây giờ đă nửa mùa thu, lá vàng tơi tả rụng khắp mặt nước ven đường. Thận Trung sực nhớ một bài trong tám bài thu hứng của Đỗ Phủ, chàng liền dịch ra tiếng Nôm và đọc cho Xuân Hương nghe: - Trường An nghe nói tựa bàn cờ Ngẫm việc trăm năm luống ngẩn ngơ Nhà cửa đức ông đều chủ mới Áo xiêm quan lớn khác th́ xưa Đồn canh ải thoắt vang hồi trống Quân tẩy miền tây rộn lá thơ Lạnh ngắt sông thu rồng cá lặn Mối t́nh nước cũ gợn ḷng tơ. Xuân Hương mỉm cười: - Thơ dịch như thế, kể cũng đúng và khéo lắm. Tiếc rằng ḿnh đă làm một việc vô vị. Thận Trung không hiểu ư nàng, chàng ngơ ngẩn hỏi: - Đă khéo lại vô vị là nghĩa làm sao? Xuân Hương vẫn cười: - Bài thơ ấy Đỗ Phủ nói về Trường An của Tàu, có dính dáng ǵ đến Trường An của ta? Sao ḿnh lại lôi nó vào trong cuộc đi chơi Trường An ngày nay. - Bởi v́ nhân lúc chúng ḿnh chơi phủ Trường An, lại gặp giữa tiết mùa thu, tôi chợt nhớ đến bài thơ ấy, nên thử dịch chơi, có phải là tôi tức cảnh cuộc chơi của chúng ḿnh đâu! Hai người bèn vào nhà trọ, một lát th́ trời vừa tối. Sáng mai, để phu cáng ở lại nhà trọ, chàng và nàng tự đi thuê một chiếc thuyền theo ḍng sông Dán xuôi thẳng xuống huyện Gia Viễn thăm động Hoa Lư, kinh đô của vua Đinh Tiên Hoàng. Một ḥn núi đá chót vót nổi trên bờ sông Điềm, h́nh thế chỗ ấy tuy có hùng vĩ, nhưng nó chỉ đáng làm chỗ sào huyệt của giặc cỏ, không đáng làm nơi kinh đô của ông vua. Xuân Hương thoạt nh́n thế núi, thế đất, nàng liền bảo với Thận Trung: - Cái người đă có sức dẹp nổi mười hai sứ quân, lấy được đất nước, làm sao lại đem kẻ chợ đóng vào một chỗ chật hẹp và hẻo lánh thế này? Xem thế biết th́ lăo ấy liệu đáng kể là vua một nước? Thận Trung nói: - Nước ta bắt đầu độc lập là tự ông ấy. - Chỉ nên gọi là lănh chúa. Rồi hai người lên bộ, thuê chiếc thuyền nan, bơi vào trong núi. Núi có ba ngọn, hai ngọn bên cạnh, một ngọn giống như h́nh người, gọi là núi ông Trạng, một ngọn giống như cái ḥm, gọi là núi ḥm Sách, động Hoa Lư ở vào chính giữa, cửa động không sâu lắm, nhưng thân động th́ cũng khá sâu. Thăm qua hang núi, hai người dắt nhau lên sườn núi t́m dấu kinh đô của Đinh Tiên Hoàng. H́nh như trải qua thời gian, mưa gió đă mài ṃn hết sự nghiệp của ông vua mở nước bằng cờ lau, di tích lâu đài thuở xưa, nay không thể nhận ra, sườn núi chỉ thấy có mấy gian đền lụp xụp, trên thờ Đinh Tiên Hoàng, dưới thờ Lê Đại Hành, giữa thờ mụ Dương Hậu, Thận Trung nh́n khắp trong đền thấy đôi câu đối: - Vân hội nhất ư thiên, Đê Tông hoàng bào, Đê Việt long cổn Anh linh đồng thử địa, Hoàng Đinh thượng miếu, Hoàng Lê hạ từ. Chàng chỉ tay bảo Xuân Hương: - Người nào nghĩ hai câu ấy móc máy soi mói, kể cũng chua chát lắm nhỉ? Xuân Hương cười nhạt: - Theo ư tôi, móc máy soi mói như thế cũng quá đáng. - Sao vậy? Một người vợ vua, chồng chết đi phải ḷng trai, lại đem cả nước của chồng cho trai, thế mà ḿnh bảo không đáng soi mói th́ thế nào nữa mới đáng soi mói? - Phải, theo luân lư của nhà nho, Dương Hậu vẫn là có tội. Nhưng cái tội ấy, có thể tha thứ. Bởi v́, như tôi vẫn nói, trời sinh loài người ai ai cũng có nết dâm dục, nó bắt người ta phải bạo lực khó chịu trong khi bị thiếu thốn về đường t́nh, cũng như thiếu cơm th́ thấy đói thiếu nước th́ thấy khát vậy. Gái góa chồng không khác trai góa vợ, nếu c̣n trẻ tuổi, ai không v́ đường tính thiếu thốn mà bạo lực khó chịu? Cớ sao trai chết vợ th́ được lấy vợ, mà gái chết chồng lại bắt người ta phải suốt đời giữ cái pḥng không? Đó là một điều vô lư. Thế th́ Tiên Hoàng chết đi, Dương Hậu vẫn được phép đi phải ḷng trai, việc ấy là việc rất cần của bà. C̣n như chuyện đem nước của chồng cho trai lại càng không đáng trách bà. Lúc ấy con trai Tiên Hoàng đă không ra người, trong nước lại bị quân Tống kéo sang đánh phá, nếu không có Lê Hoàn chống lại th́ nước của Tiên Hoàng cũng mất về Tống, chớ c̣n sao được? Vả lại, hồi ấy bao nhiêu binh quyền đều ở trong tay Lê Hoàn, Lê Hoàn cứ việc cướp lấy cũng không có ai cản nổi, thà cho ông ta c̣n được tiếng là người tri cơ. Hơn nữa, nước của Tiên Hoàng cũng là đất cát của trời sinh ra, Tiên Hoàng giỏi nghề binh đao, dành được của kẻ khác, có phải là nước của Tiên Hoàng đúc nặn ra đâu? "Nhất điện thiên vạn chừ", ruộng của nhà này có thể bán cho nhà khác. Xuân Hương nói một thôi dài, làm cho Thận Trung không t́m được lẽ căi lại, chờ nàng dứt câu, chàng liền tủm tỉm cười nụ mà rằng: - Tư tưởng của ḿnh kể cũng lạ đấy. Nhưng tôi nghe ḿnh nói không khỏi phát phiền. - Việc ǵ mà ḿnh phải phiền? - Giả sử tôi chết, chắc ḿnh cũng phải ḷng trai. - Cái đó đă hẳn. Nếu có tiếc tôi th́ ḿnh đừng chết. Mà nếu như ḿnh chẳng may phải chết, th́ c̣n giữ tôi làm ǵ. Hai người cùng cười ầm lên. Mặt trời tà, họ mới cùng xuống núi, ra sông, xuống thuyền ngược về phủ Trường An. Ánh trăng vằng vặc chiếu xuống làn nước xanh lè, cảnh đêm trên sông cực kỳ xinh đẹp, chàng và nàng ngồi trên mạn thuyền ngắm nghía phong cảnh. Dưới những đám mây lơ lửng, núi non cao thấp chạy khắp bốn mặt, chẳng khác bốn bức họa đồ, càng nh́n càng không biết chán. Đêm khuya, hai cô lái đ̣ chừng đă mỏi mệt buồn ngủ, thỉnh thoảng lại điểm một vài câu hát để làm nhịp cho đôi mái chèo. Giọng trong tiếng tốt khúc hát đầy những ư vị ngây thơ, khiến cho chàng và nàng càng thêm hứng thú. Gần sáng, thuyền đến phủ lỵ Trường An, hai người nghỉ ngơi, rồi cùng thuê thuyền xuống thăm cảnh chùa Non Nước. Bước lên sườn núi, Thận Trung nh́n bài thơ của Trương Hán Siêu khắc trên tảng đá, chàng mới đọc được hai câu: - Sơn sắc chính y Y du nhân hồ bất qui. Bỗng chàng rùng ḿnh một cái, sắc mặt tái mét, phải ngồi phục xuống tảng đá, chân tay run như cầy sấy. Sợ quá, Xuân Hương bảo lái thuyền vực chàng xuống thuyền đưa về nhà trọ. Th́ ra bệnh sốt rét ngă nước ngày trước tuy khỏi nhưng chưa triệt nọc, khi ấy v́ chàng đi đường vất vả, dầu dăi sương gió, lại thêm thức luôn mấy đêm không ngủ, cho nên nó lại phát ra. Xuân Hương lại dùng phương thuốc hôm xưa ṿ cho chàng uống, nhưng lần này không thấy công hiệu, luôn bận năm ngày, chàng uống hết chừng bốn năm bát vẫn không cất cơn. Sợ ở nhà trọ nhiều điều bất tiện, nàng bèn thôi việc vào thăm quê hương, bảo phu cáng, cáng chàng và ḿnh trở về Hà Nội. Gió thu hiu hiu đưa khí lạnh từ nẻo rừng núi phía tây trở về, càng làm cho Thận Trung to thêm cơn bệnh. Tuy rằng chàng vẫn nể nàng, không dám rền rẫm than thở, nhưng mỗi khi cơn bệnh nổi lên, sức chàng không hăm nối, thường thường rung chuyển cả vơng. Tới phủ Lư Nhân, nàng bảo phu cáng đỗ cáng để chàng vào quán nghỉ tạm. Mụ quán thấy chàng mặt mũi xanh xao, đoán là chàng sốt rét, mụ liền mách nàng lấy mấy viên thuốc của một thầy lang gần đó, và nói quyết rằng: "chỉ uống một lần là khỏi". Xuân Hương xưa nay không tin bọn lang vườn, nàng cho họ là đồ vô học, không biết nghề thuốc là ǵ, uống thuốc của họ không khỏi có sự nguy hiểm, nên nghe mụ nói, nàng chỉ cảm ơn không nhận lời. Thận Trung lại khác, chàng cũng không tin bọn lang vườn vô học, nhưng lại tin những thuốc gia truyền, chàng vẫn cho rằng: "những thuốc gia truyền đều là thứ thuốc đă quá nhiều lần kinh nghiệm mà t́m ra được, phần nhiều rất có công hiệu." Bởi vậy, chàng cứ giục nàng đi lấy mấy liều để chàng uống thử, dù không khỏi cũng không hại ǵ. Ch́u chàng, nàng bèn nhờ mụ hàng lấy giúp cho một liều. Uống thuốc xong, chàng lại lên cáng giục phu cáng đi. Xuân Hương luôn luôn cho cáng của ḿnh đi kèm ở bên cạnh chàng, nàng chỉ canh cánh lo chàng lầm thuốc, chẳng ngờ thuốc ấy hay thật, hôm ấy Thận Trung không lên cơn, hôm sau cũng không thấy cơn lên, chàng được yên lành về đến Hà Nội. Cố nhiên nàng lại đón chàng vào luôn nhà ḿnh dưỡng bệnh, không dám để đi đâu. Chàng vừa lên gác nằm nghỉ chưa đầy nửa giờ, ngoài cửa bỗng thấy có tiếng ầm ầm, rồi đến tiếng đập cửa thành thành, rồi đến tiếng gọi dữ dội: - Thằng Đàm Thận Trung muốn sống xuống mà chịu tội! Mau mau! Giật ḿnh, chàng vội trở dậy hé cửa trông ra. Dưới cả một bọn chừng ba chục người toàn là học tṛ, kẻ cầm sào gậy, người thừng trạc ai nấy nét mặt hằm hằm ra bộ tức giận. Đi đầu bọn đó, lại có mấy ông cụ già đầu bạc phơ phơ: cụ Nghè Hoàng, cụ Nghè Đặng và ông Đồ Đàm bác ruột Thận Trung. Chàng không hiểu v́ sao hai cụ Nghè Hoàng và ông cụ Đồ bác ḿnh lại đem học tṛ đến xỉ vả ḿnh như thế, lúng túng chàng bảo Xuân Hương đừng mở cửa vội thử xem họ làm tṛ ǵ. Th́ ra trong khi chàng lên cáng đi với Xuân Hương, học tṛ cụ Nghè Hoàng có kẻ trông thấy, liền về mách luôn với thầy. Nghe tin ấy, cụ Nghè Hoàng lấy làm tức giận, và lại thẹn rằng: trong môn đồ có kẻ đi theo con đĩ , làm nhục thanh gia của ḿnh. Lúc đầu, cụ định họp cả học tṛ tại trường để kể tội Thận Trung rồi xóa tên chàng trong số môn sinh, không nhận là học tṛ nữa. Sau v́ cụ Nghè Đặng nói ra nói vào, cho rằng trị tội Thận Trung như thế c̣n là quá nhẹ. Theo ư cụ phải bắt Thận Trung đánh cho một trận nhừ tử, th́ mới có thể răn được kẻ khác. Câu nói như thổi vào ruột cụ Nghè Hoàng, tức th́ cụ viết thư mời ông Đồ Đàm đến nhà ḿnh, kể hết tội trạng Thận Trung cho nghe. Ông đồ cũng xấu hổ v́ có đứa cháu hư thân làm cho điếm nhục gia thanh, luôn hôm ấy ông nhờ cả học tṛ của hai ông Nghè đi ŕnh Thận Trung xem chàng ở đâu, chẳng may cho chàng, vừa về đến Hà Nội, người ta báo ngay cho hai cụ Nghè và ông Đồ biết. Khi ấy cả lũ học tṛ gọi măi không thấy Thận Trung xuống gác, họ bèn bảo nhau cậy cửa kéo vào. Thận Trung không c̣n đường nào chạy, chàng liền bị họ trói lại điệu xuống. Xuân Hương biết chừng không thể cứu nối, nàng bèn giả cách làm lơ, chờ cho bọn ḱa dẫn chàng ra khỏi nhà ḿnh, tức th́ nàng đến nhà ông Chiêu Bảy nhờ ông nghĩ cách cứu cho chàng. Vừa may gặp ông Chiêu Tám cũng có ở đó, hai ông nghe nói Thận Trung, ai cũng thương hại và tức giận mấy cụ kia. Ngay lúc ấy, các ông dẫn nhau ra phường Đồng Xuân, đón đường mấy ông cụ ấy để xin giùm cho Thận Trung. Không những các cụ không nghe, lại mắng thêm cho hai ông Chiêu một trận tàn nhẫn. Hai ông Chiêu cũng không chịu nh́n, cùng nhổ vào mặt hai cụ Nghè và mắng: - Các anh chỉ làm cho nhục nhà Nho. Hết |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:43 AM Post #2 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Quay lại, Thận Trung xoay vần quả mít, quả nhiên hăy c̣n xanh lắm, vỗ tay vào vỏ, chỉ thấy bành bạch, không thấy bồm bộp! Xuân Hương liền sai con Nụ đem xuống nhà dưới đóng cọc vào cuống và phơi ra nắng cho nó chóng chín. Thận Trung vui cười bảo nàng: - Ḿnh giỏi thơ nôm, thử vịnh quả mít một bài tôi xem. Nàng cười và đọc: - Thân em như thể mít trên cây, Da nó xù x́, múi nó dầy Rồi nàng bỗng cười rũ rượi, không đọc được nữa. Thận Trung ngạc nhiên hỏi: - Cười ǵ dữ vậy? Nàng vẫn cười không trả lời. Một lúc lâu; nàng vừa bưng miệng vừa đọc nốt hai câu nữa: - Quân tử có yêu th́ đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay. Thận Trung cũng phá lên cười: - Thế cũng thơ với thẩn! Thơ thẩn ǵ mà nhả nhớt như vậy! Thế mà người ta chê là đĩ thơa lại c̣n kêu oan! Nàng vẫn vừa cười vừa nói: - Ô hay, tôi vịnh quả mít như thế! Sao ḿnh lại chê nhả nhớt? Những chữ "đóng cọc", "mân mó", "nhựa ra tay" là chữ "nhả nhớt" hay sao? - Cố nhiên những chữ ấy không phải là chữ nhả nhớt, nhưng ở miệng ḿnh nói ra, th́ nó hóa ra nhả nhớt tức th́. Vừa nói, chàng vừa sẽ ôm lấy nàng hôn luôn mấy cái. Một trận gió nồm thổi vào cửa gác, bức màn trên phất phơ rung động, làm tan cuộc ái ân. Xuân Hương đứng dậy chạy ra án sách, mài mực tẩm bút chép luôn mấy câu thơ mít vào tập th́ cảo, Thận Trung vội ngăn: - Thơ thế mà cũng chép lại, ḿnh không sợ đời sau chê cười hay sao? - Nếu sợ tôi đă không làm, đă làm th́ tôi không sợ ai khen mặc ai, ai chê mặc ai. Vả chăng, ḿnh đă làm ra, th́ cứ chép lại để cho đời sau phẩm b́nh, can ǵ mà phải giấu giếm. Chàng cũng phục nàng là người can đảm và thực thà. Cách vài hôm sau, Thận Trung đi chơi thăm mấy người bạn, khi về, chàng đưa cho nàng cái thư của một người sắp sửa cưới vợ, mời chàng đến mừng, và nói: - Con trai ông Cống lấy con gái ông Nghè, đám cưới chắc là to lắm. Nàng đọc hết thư rồi b́nh tĩnh hỏi: - Ḿnh có định đi mừng hay không? - Có chứ? Chỗ anh em chí thân! Người ta đă mời không đi th́ c̣n ra thế nào? - Thế th́ ḿnh c̣n câu nệ, không xét thấu lẽ phải. - Sao vậy? - Trai lấy vợ, gái lấy chồng, chỉ là một sự rất thường, không phải lạ lùng ǵ cả! Thật thế, ḿnh thử nghĩ mà xem, có âm dương th́ có vợ chồng, đến như giống chim giống chuột cũng đều có vợ có chồng tất cả, chẳng riêng ǵ một giống người. Vả lại, việc vợ chồng cua loài người nó cũng là việc cần có của đức dâm dục, cũng như đói phải ăn, khát phải uống, làm sao gọi là việc vui mừng, bầy ra lễ nọ lễ ḱa cho phiền? - Theo ư ḿnh, vợ chồng lấy nhau không phải lễ nghĩa, cũng không phải mừng mơ ǵ cả? - Chính thế. Dạm là cái ǵ, hỏi là cái ǵ, đưa dâu đón rể là cái ǵ? Chẳng qua cổ nhân vô sự, cũng vẽ ra thế cho hay, giống như phường tṛ vẽ ra một vở tṛ vậy. Loài người cần phải đôi nào vào đôi ấy, là tránh cho khỏi nạn loạn dâm. Đă vậy, tôi bằng ḷng ḿnh, ḿnh bằng ḷng tôi, chúng ta cứ việc ăn nằm với nhau, sinh con đẻ cái với nhau, chỉ cần báo cho mọi người biết rằng tôi với ḿnh đă kết thành đôi với nhau, đừng ai ngấp nghé sánh đôi với chúng ta nữa, dạm, hỏi, treo, cưới, đưa dâu, đón rể, ư nghĩa chỉ có như vậy. Thế th́ t́m cách ǵ khác mà báo cáo với người ta, há chẳng tiện hơn, can ǵ phải bày ra ăn uống mừng mơ! Thận Trung cười t́nh: - Thế th́ tôi với ḿnh không cần phải thêm ǵ nữa, cứ thế này th́ cũng đủ thành vợ thành chồng đấy nhỉ? - Đủ rồi. không phải vẽ vọt thêm nữa. Miễn là chúng ta suốt đời yêu nhau. - Nhưng mà thiên hạ chê cười th́ sao? - Mặc kệ, chúng ḿnh cho thế là phải th́ chúng ḿnh cứ thế, mà c̣n như cái chê, khen của người đời chẳng biết lấy ǵ làm bằng. Người ta cười chúng ḿnh không cưới không hỏi là không biết lễ, chúng ḿnh có quyền cười lại những kẻ có cưới có hỏi, có đứa đưa dâu đón rể là ngu, không biết phán đoán hay dở, chỉ nhắm mắt theo liều cổ nhân. Thận Trung bỗng đùa âu yếm: - Thế th́ ở trong đời này, nhất ḿnh đến tôi, thánh hiền đời xưa cũng không bằng! - Chứ ǵ. Thánh hiền đời xưa, phần nhiều chỉ là người đặt ra, mắc cái thói quen. Chúng ta nay cũng xướng xuất cho thiên hạ đời sau một việc, th́ chúng ta cũng là thánh hiền chứ sao. Từ đó hai người nghiễm nhiên làm vợ làm chồng với nhau không c̣n e lệ ǵ hết. Dần dà sang đầu mùa thu, Thận Trung ngỏ ư muốn vào Nghệ An thăm viếng quê quán của nàng, luôn thể đi xem các nơi sơn thủy ở vùng trong. Nàng rất hoan nghênh việc đó, và nói một cách ỡm ờ: - Ngă nước suưt chết v́ sơn thủy đường ngược vẫn không chừa, lại muốn đi xem sơn thủy đường trong nữa. - Chơi sơn thủy cũng như đọc sách vở, đều là việc rất cần của văn nhân. Cổ nhân có nói: "Trong bụng không có ba vạn cuốn sách, trong mắt không có non nước lạ lùng ở gầm trời, chưa chắc đă viết được văn, dù có viết văn, cũng chỉ là lời của đàn bà trẻ con mà thôi". Tôi cho câu ấy rất đúng. Hôm sau, Xuân Hương thuê hai cái cáng để chàng và nàng cùng đi. Lần này nàng ăn mặc đàn bà, chứ không ăn mặc giả trai như lần lên chơi Thái Nguyên. Thận Trung không dám ngăn nàng, trong bụng cũng hơi e lệ, v́ chàng vời nàng tuy là vợ chồng nhưng không hỏi không cưới, th́ đôí với người ngoài, vẫn là một đôi trai gái. Vô cớ dằt gái đi chơi tránh sao khỏi những tiếng mai mỉa của bạn bè. Nàng hiểu ư chàng như vậy. Song cũng giả vờ làm thinh. Sắp sửa đồ đạc xong rồi. Hai người lên hai cáng, theo đường thiên lư đi về phía Nam. Phong ải dọc đường nhiều chỗ đă lưu chàng và nàng phải quyến luyến bồi hồi không thể dứt đi thoát. Khi qua huyện Kim Bảng, hai người xuống cáng dắt nhau lên thăm dăy Long Đội, rồi cùng sang núi Kẽm Trống. Núi này ở chỗ giáp giới của hai xứ Sơn Nam và Thanh Hoá. Hai bên hai cái sườn núi giáp nhau, giống như hai cái trái đùi, ở giữa có một gịng nước rất hẹp, h́nh thể coi cũng lạ lùng. Trông ở tấm đá đỉnh núi có vết chữ đục, nh́n kỹ là thơ của Chúa Trịnh đề vịnh trong khi đi tuần miền Tây, Thận Trung liền bảo Xuân Hương: - Ḿnh giỏi thơ, thử đề một bài thi với chúa Trịnh xem sao! - Ḿnh muốn tôi đề thơ nôm hay thơ tự. - Nôm cũng được, tự cũng được, miễn là thơ hay. Nàng không nghĩ ngợi liền đọc: - Hai bên th́ núi, giữa th́ sông, Có phải đây là Kẽm Trống không Gió đập cành cây khua lắc rắc, Sóng dồn mặt nước vỗ ḷng bong, Thận Trung nói xen: - Chưa hay. Hai câu thứ ba thứ tư tả trái núi khác cũng được, không sát với cảnh Kẽm Trống. Nàng lại đọc tiếp: - Ở trong hang tối hơi c̣n hẹp, Ra khỏi đầu non đă rộng thùng. Thận Trung vẫn chê: - Cũng chưa hay. Trong hẹp, ngoài rộng, cái hang nào mà chẳng thế, cứ ǵ Kẽm Trống. Nàng vờ phát cáu: - Thế nào ḿnh cũng chê là không hay, tôi phải kết cho thật hay mới được. Rồi nàng đọc nốt: - Qua... cửa ḿnh ơi nên ngẫm lại, Nào ai có biết nỗi bưng bồng. Thận Trung cười: - Chữ cửa đặt liền với chữ ḿnh tục, th́ tục, chứ hay th́ không hay. Có điều cũng hơi tài, và chỉ riêng ḿnh có cái tài ấy. Làm sao đề vịnh cảnh ǵ, ḿnh cũng vẽ ra cái "phải gió" ấy được? |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:44 AM Post #3 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Mấy hôm nay Thận Trung đă khá nhiều lắm. Chàng đă cất cơn nóng lạnh, ăn, ngủ gần bằng cũ. Nét mặt cũng đỡ xanh xao. Xuân Hương bấy giờ mới hơi vui ḷng. Hôm mới mắc bệnh, chàng sợ ở đó có điều bất tiện cho nàng, nên đă bảo nàng thuê cáng đưa ḿnh về quê. Nhưng nàng không nghe, nhất định giữ chàng ở lại. Nàng cũng biết rằng giữ chàng ở lại tất nhiên láng giềng, hàng phố, ai cũng bảo ḿnh nuôi trai trong nhà, nhưng nàng không sợ những tai tiếng đó. Bởi v́, theo ư nàng sự tâm đầu ư hợp đă dắt hai người ăn chung ở lộn trong bấy nhiêu lâu, th́ với nàng, chàng tức là "chồng" không phải là "trai", nàng nuôi chàng chính là nuôi chồng, không phải nuôi trai. Người ta bảo nàng nuôi trai, chẳng qua chỉ tại nàng không có trầu cau biếu họ, không có cỗ bàn thết họ, để tŕnh cho họ hay rằng "tôi đă là vợ người này". Chồng cũng được, trai cũng được, ai có miệng th́ nấy cứ nói, ḿnh đă yêu chàng quư chàng, coi chàng là người tri kỷ, trong lúc khỏe mạnh, xa nhau một ngày cũng c̣n khó chịu, huống chi chàng đương đau yếu... Hơn nữa, cái sự đau yếu của chàng lại bởi tại ḿnh ép chàng lên chơi xứ Thái, xông pha trong đám hơi rừng khí núi đến mấy tháng trời, thế th́ ḿnh để chàng về quê sao đành? Nghĩ vậy, nàng mới để ngoài tai những tiếng thị phi, quyết chí lưu chàng ở nhà để ḿnh chạy chữa. Cố nhiên bệnh ngă nước chưa phải bệnh nguy hiểm đến không thể chữa được, nàng vẫn biết thế, thế mà mỗi khi thấy chàng lên cơn, run lẩy bẩy, rên hừ hừ, th́ nàng lại lo canh cánh, chỉ sợ chàng chết, mất ăn, mất ngủ v́ chàng đến mấy chục ngày. May thay gặp thầy gặp thuốc, bệnh chàng mỗi ngày một lùi, bụng nàng cũng mỗi ngày mỗi yên. Hôm ấy, chàng thấy trong ḿnh đă mạnh, mới sai con Nụ nấu nước để ḿnh tắm gội, Xuân Hương mỉm cười bảo chàng: - Tắm làm ǵ vội? Tôi tưởng các ông nhà nho vẫn có đức "hà tiện nước", hằng năm không tắm cũng vẫn chịu được kia mà, ḿnh mới nghỉ tắm độ vài chục ngày đă thấm vào đâu! Thận Trung cũng cười: - Tôi chỉ là một người có biết chữ, có đọc sách, không phải nhà nho. Ḿnh nên nhớ rằng: trong đám học tṛ chúng tôi, có người là nhà nho, cũng có người không phải nhà nho. Đại khái những người đă đọc sách nho, lại làm ra bộ ta theo đạo nho, như cụ Nghè Hoàng hay cụ Nghè Đặng và những đệ tử đắc đạo của các cụ ấy th́ mới gọi là nhà nho, c̣n tôi, tôi đọc rất nhiều thứ sách, sách Lăo, sách Trang, sách Đường, sách Mặc... Nội sách chư sử, tôi đều đọc qua không phải riêng một sách nho. Việc làm của tôi, có khi giống đạo nho, cũng có khi trái hẳn đạo nho, sao ḿnh lại bắt tôi phải là nhà nho. Nhắc lại cho ḿnh lần nữa: tôi không phải nhà nho, từ rày trở đi đừng đem thói xấu của nhà nho mà gán vào tôi. Xuân Hương vẫn cười: - Vậy th́ tôi đem thói tốt của nhà nho mà gán cho ḿnh, ḿnh có bằng ḷng hay không? - Không! Tôi không thích thế. Cái ǵ không phải tự tôi làm ra, không khi nào tôi lại nhận lấy, việc tốt cũng vậy, việc xấu cũng vậy. Bởi v́ không có mà nhận, nhận cái xấu tức là giả dối, nhận cái tốt tức là ăn cắp. Ḿnh đă không phải nhà nho, làm sao hôm nọ tôi chê nhà nho, ḿnh lại cứ bênh chằm chặp... - Đó là lẽ đương nhiên! Nhà nho cũng có người tốt, có người xấu, không nên v́ một vài người tốt mà khâm phục nhà nho, cũng không nên v́ một vài người xấu mà mạt sát nhà nho. Tôi bênh nhà nho là bênh cái danh nghĩa của một phái người, không phải bênh những ông lên mặt ta là nhà nho. Nghỉ một lát, chàng lại nói tiếp: - Nói cho đúng, cụ Nghè Hoàng, cụ Nghè Đặng và những ông Nghè, ông Cống cùng một tính nết như hai cụ ấy cũng không thể gọi là nhà nho. - Sao vậy? - Các cụ ấy chỉ cứ bệ vệ làm bộ để lấy danh vọng đó thôi. Thực ra những việc của các cụ ấy đă làm, những ư của các cụ ấy vẫn nghĩ chẳng có cái đúng như đạo nho. Nhưng những cụ ấy mà dám nhận là nhà nho. - Thế th́ gọi các cụ ấy là "nhà" ǵ được? Nhà "hương nguyện". Giả sử Khổng Tử sống lại, chắc ngài cũng không thèm nhận các cụ hương nguyện ấy vào đám nhà nho. Con Nụ nấu nước tắm đă xong, nó lên giục chàng xuống tắm. Lúc ấy đă gần đến trưa, tuy rằng đương tiết tháng sáu, trời nắng chang chang, nhưng ở thư pḥng của Xuân Hương, gió nam ở dưới hồ Tây đưa vào hây hẩy. Nàng đứng trước cửa, nh́n những bông sen đương nở trong hồ, và thưởng thức mùi hương theo gió bay lên trên gác, mơ màng ôn lại những ngày vui, buồn vừa qua, bỗng chốc nhớ đến mấy câu đầu chuyện Hoa tiên nàng ngâm: - Vựng khởi nguy lan nạp nán lương, Thu phong vi tông bạch liên hương Thận Trung Tắm xong, vừa lên, chàng liền đọc theo: - Giao tri thiên thượng giai kỳ cận Chức nữ kim dạ hội Ngưu lang Rồi chạy đến trước cửa, vỗ vai nàng, chàng đọc lại câu cuối lần nữa: - Chức nữ kim dạ hội Ngưu lang. Nàng nh́n chàng bằng đôi mắt t́nh tứ: - Vừa mới ốm dậy. . . Chàng không trả lời, liền dịch bốn câu Hoa tiên mà nàng và chàng mới ngâm ra bốn câu thơ nôm: - Tựa lan, bóng mát, ngắm trời chiều, Gió quạt mùi sen bát ngát theo, Nhớ chửa, trên trời sắp có tiệc Đêm nay ả Chức gặp chàng Ngưu! Rồi chàng vờ hỏi: - Phải không nhỉ! có phải đêm nay ả Chức gặp chàng Ngưu không nhỉ? - Nửa tháng nữa! Dưới cửa có mụ hàng mít đi qua, nàng bảo con Nụ ra mua một quả. Lễ mễ ôm quả mít lên gác, con Nụ lắc đầu nói với cô chủ: - Mít c̣n xanh lắm chưa thật chín, chưa ăn được! Xuân Hương gắt mắng: - Sao mày không lấy quả thật chín? - Thưa cô, quả này chín nhất đấy, những quả kia c̣n xanh hơn nhiều |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:44 AM Post #4 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Ba Bể là một cảnh lạ, thỉnh thoảng cũng có người ở đường xuôi lên coi, cho nên dân thổ cũng có sẵn song loan để đưa người ta lên núi. Mỗi cái song loan phải hai người khiêng, chàng và nàng mỗi người ngồi vào một cái, đường núi dốc như bức tường, mới trông tưởng là không thể lên được, thế mà mấy anh phu khiêng song loan leo trèo rất tài, họ không phải bám phải víu ǵ hết, anh nào anh ấy cứ việc ngay lưng mà đi, ngồi trên song loan nh́n xuống chân họ, chẳng khác con mèo leo cột nhà vậy. Đường núi khuất khúc như h́nh chữ "chi", từ chân núi đến định núi không thể một ngày mà tới, quan lang đă nói trước như vậy, nên chàng và nàng đă bảo họ sắp sửa lương thực đem theo, tiện đâu ăn đấy. Lên tới lưng núi th́ trời vừa tối, hai người và lũ dân phu phải ngủ lại đó. Hồi ấy tuy đă trung tuần tháng ba, nhưng ở trên núi khí hậu vẫn c̣n hơi lạnh, chàng và nàng phải bảo lũ phu bẻ lá cây làm đệm mà nằm cho ấm. Sáng dậy, trời c̣n lờ mờ, dân phu đă giục hai người phải lên song loan, v́ họ đă thuộc độ đường, phải đi luôn từ bây giờ th́ đến quá trưa mới tới Ba Bể. Sự định liệu của họ rất đúng, chàng và nàng lên đến giữa núi, mặt trời đă xế về tây. Sau khi nghỉ ngơi ăn uống, chàng và nàng dắt tay nhau đứng ngắm h́nh thế của dăy Côn Lôn. Núi này phát mạch từ xứ Tuyên Quang chạy thẳng đến châu Bạch Thông. Thân nó mọc ra rất nhiều nhánh ngang, nhánh nào cũng thẳng như tường đứng, ngọn núi mà chàng và nàng lên đó là ngọn núi cao nhất trong các ngọn, đỉnh nó chót vót giữa trời, xưa nay chưa ai lên được, chỗ chàng và nàng đứng coi mới ở giữa núi. Trong một tảng đá cao thẳm th́nh ĺnh có một cái hang cao độ ba trượng, rộng độ trượng rưỡi, dài độ mười trượng, ở trên có nhiều nhũ đá rủ xuống, trông như bức tranh năm sắc, thật là một nơi thần đẽo qủy gọt, hơn hẳn nhân tạo. Hang này quanh năm vẫn có nước suối chảy ra, đứng dưới trông lên trắng xóa như tấm lụa bạch. Các sách địa dư thuở trước, đều nói suối ấy phát nguyên tự bên Tàu, qua phủ Cao Bằng đến châu Bạch Thông rồi đổ ra đó. Không biết có đúng vậy không. Từ trong hang này đi ra, nhánh bên hữu là xă Tiên Loan có một cái bể, nhánh bên tả là xă Hải Vũ có hai cái bể. Hết bể sang tới địa hạt Tuyên Quang, bên kia cũng là một làn nước. Giữa chỗ hai làn nước ấy giáp nhau, có cái bờ đá ngăn cách, thuyền bè không thể đi qua. Mỗi cái bể đó, chu vi ước chừng hai dặm hoặc ba dặm, quanh bể toàn là núi đá, cạnh núi, xóm làng thổ dân ở khắp bốn mặt, chỗ th́ nước, chỗ th́ đá, chỗ th́ cây cối um tùm, trong bề lại có những ḥn núi đá nhỏ ẩn hiện giữa lớp sóng cồn. Khi ấy gió im, sóng lặng, thuyền chài bơi lên bơi xuống, phấp phới khắp các nơi, chàng và nàng thơ thẩn đứng coi, dường như ai nấy đều không biết chán. Xuân Hương chỉ tay xuống bể và nói: - Trông bể, núi liệu có thật là kỳ công của tạo hóa? Thận Trung chưa kịp nói sao, một người phu bộp chộp vội hỏi: - Hai ngài có biết v́ đâu có những bể này hay không? Chàng và nàng đều lắc đầu: - Chúng tôi không biết! Những bể ấy v́ đâu mà có? Người dân phu ra bộ đắc ư: - V́ một bà long thần. Các cụ ở đây vẫn thường nói rằng: Đời xưa, mấy làng ở vùng Nam Mẫu mở hội làm chay, lập đàn thí thực to lắm. Người ở các nơi đến xem rất đông, th́nh ĺnh có một bà già quần áo rách rưới, thân h́nh bẩn thỉu trốn vào đám xin ăn. Người làng lấy làm ghê tởm, thi nhau mắng đuổi bà lăo. Bà lăo cố ngồi từ sáng đến tối, không được miếng ǵ, lại phải chống gậy đi ra. Tới giữa đường gặp hai mẹ con nhà nọ cũng ở làng. Nam Mẫu, bà lăo kể hết t́nh đầu. Mẹ con nhà kia ngậm ngùi than thở mà rằng: "Khốn nạn? Bà đă tiều tụy thế này, mà sao người ta không thương? Tội nghiệp. Thôi đây, tôi c̣n vài bát cơm tối chưa ăn, bà hăy xơi cho đỡ đói". Bà lăo ăn mày tức th́ ăn hết cả mấy bát cơm, mẹ con nhà kia vui vẻ mà về sắc mặt chưa hề có vẻ oán hận. Đêm hôm ấy, bà lăo ăn mày lại đến tận nhà kia bảo rằng: "Lúc chiều nhà bà nhường cơm cho tôi, thật là một người nhân đức. Tôi đi từ bấy đến giờ vẫn không có chỗ nào ngủ, bà đă làm phúc th́ hăy làm phúc cho trót, xin bà cho tôi ngủ nhờ một đêm, sáng mai tôi xin đi sớm". Mẹ con nhà ấy lấy làm vui ḷng, liền mời vào nhà nhường giường cho bà lăo ngủ, cả hai mẹ con cùng nằm dưới đất. Nửa đêm nghe tiếng ngủ ngáy ầm ầm như sấm, mẹ con bà kia bảo nhau đốt đèn lên soi. Không thấy bà lăo ăn mày tâu cả, chỉ thấy cái xác con rồng lớn độ vài mét nằm dài thườn thượt giữa nhà. Mẹ con nhà này sợ quá, tức th́ tắt đèn đóng cửa đi ngủ, không dám đánh tiếng. Sáng mai trở dậy, lại thấy bà lăo ăn mày nằm đó, không thấy con rồng đâu nữa? Mẹ con bà này biết rằng bà lăo ăn mày không phải là ngườí thường, liền đến trước mặt thụp xuống vái lạy. Bà lăo ăn mày thỏ thẻ bảo rằng "Ban ngày ta đi xem hội, trong hội toàn là những kẻ "khẩu phật tâm xà", không ai ra ǵ. Chỉ có mẹ con nhà mụ, c̣n có một chút từ tâm, vậy ta làm phúc cứu cho ra khỏi bể "trầm luân". Mẹ con bà này càng sợ, cứ việc vái lạy x́ xụp, không dám ngẩng lên. Bà lăo ăn mày lại nói: "Nay mai chi đây, hễ thấy có sự ǵ lạ, mẹ con nhà mụ phải mau mau đem nhau lên măi sườn núi mà ở, không được chậm trễ phút nào, nếu chậm th́ chết, không ai cứu được". Dứt lời, bà lăo ăn mày biến mất. Mẹ con nhà kia thấy vậy càng khiếp, ai nấy tin rằng lời nói của bà cụ ấy tất nhiên sẽ có ứng nghiệm. Quả nhiên cuộc hội chưa tan, th́ ở một khu ruộng cạn tự nhiên thấy có mạch nước phun lên. Mạch ấy lúc đầu bằng cái cổ tay, chỉ trong nháy mắt, nó đă loét bằng cái cống, nháy mắt nữa th́ bằng cái chuôm, lại nháy mắt nữa th́ bằng cái hồ, chưa đầy nửa ngày đă thành ba cái bể đó. Hết thảy dân cư trong vùng đều bị ch́m xuống đáy bể chết cả, chỉ có mẹ con bà nọ sống sót Là v́ hai người ấy nhờ có bà lăo ăn mày báo trước, từ khi mới thấy nước phun, mẹ con đă dắt nhau chạy lên đến sườn núi. Thế là cả vùng Nam Mẫu, đàn ông đàn bà c̣n được hai người. Về sau, hai người ấy, con lấy vợ, mẹ lấy chồng, sinh con đẻ cháu, nẩy nở mỗi ngày mỗi nhiều, thành ra nhân dân trong vùng Nam Mẫu bây giờ. Người dân phu nói luôn một mạch không nghỉ, dường như sợ rằng nghỉ, sẽ bị người khác cướp lời của ḿnh, làm cho Xuân Hương và Thận Trung không thể nói xen vào chỗ nào được. Khi ấy hết chuyện, anh ta mới tạm dừng một phút để thở một hơi, rồi anh ta nói nốt câu kết: - Như vậy hai ông bảo có lạ không? Thận Trung nửa cười: - Lạ lắm! Rồi chàng ngoảnh nh́n Xuân Hương: - Ở trên vùng này chắc có người đọc Công dư tiệp? Xuân Hương lắc đầu: - Không chắc! Hoặc giả người soạn Công dư tiệp kư đă nghe những chuyện truyền văn ở vùng này cũng nên. Hai người lần lượt đi dạo vài nơi quanh bể, ngắm nghía phong cảnh. Xuân Hương muốn thuê một chiếc thuyền chài chở ra bể chơi. Bỗng đâu gió Nam nổi lên, các mặt bể sóng đánh cồn cộn, bao nhiêu thuyền chài đều phải rát vào ven bờ. Bốn bề mây kéo tối sầm. Chiều trời mỗi lúc mỗi thêm u ám, bọn phu song loan sợ đổ mưa, liền giục hai người trở xuống, t́m chỗ gốc cây ẩn nấp, chàng và nàng đều phải quay lại lối cũ. Thận Trung chỉ xuống chân núi và bảo Xuân Hương: - Cứ kể từ đây xuống đến chân núi cũng không xa lắm, thế mà phải đi gần hai ngày trời là nghĩa lư ǵ! Xuân Hương đáp: - Th́ đường đi quanh co như thế, một bước sôi ra ba, bốn chục bước, trách nào mà chẳng đi xa thêm. Giả sử có con đường khác thẳng hơn một chút, th́ đâu đến nỗi phải đi vằn vèo như vậy? Đi một quăng nữa, Thận Trung lại nói: - Chỗ này là một cảnh đẹp, văn nhân mặc khách ai trông thấy cũng phải say mê. Bây giờ hạt này c̣n là rừng rú những kẻ đương đại, không biết thưởng thức thắng cảnh cho nên họ không sửa sang. Nhưng con cháu chúng ta sau này tất nhiên cũng phải có kẻ mở mang đường lối, khiến cho du khách tiện sự đi lại. Xuân Hương gật đầu: - Cái đó có lẽ. Cảnh đẹp tức là cái mồi nhử người, dù nó ở xứ hẻo lánh, người ta cũng phải t́m đến. Tây hồ bên Tàu, đời Tô Đông Pha, c̣n là một chỗ hoang vu, chỉ để đày người có tội, thế mà ngày nay đă trở thành một nơi phồn hoa... Câu chuyện đương dở, cả bọn đă tới chỗ cũ, dân phu mời hai người lên song loan để họ khiêng xuống. Chẳng bao lâu, đến nhà quan lang. Xuân Hương muốn ở lại để xem một vài nơi nữa. Thận Trung sợ rằng ở đó lâu ngày sẽ bị ngă nước, hai người bèn cùng lên cáng trở về đường xuôi. Tới huyện Kim Hoa, hai người vừa đỗ cáng vào hàng uống nước, trước quán bỗng có cái vơng đ̣n cong do hai người lính áo nẹp khiêng đến, đằng sau lại có hai người cắp tráp xách điếu đi sau. Đến cửa quán, đ̣n vơng hạ xuống, trên vơng, một người khăn thâm, áo chùng, ra bộ nho học bệ vệ bước xuống. Thận Trung vội nh́n xem ai, th́ ra một người học tṛ cụ Nghè Hoàng, cùng bạn đồng học với ḿnh, vừa đậu Hương Cống khoa trước. Giữ lễ giao thiệp, chàng liền đứng dậy vái chào, ông Cống chỉ sẽ gật đầu một cái, rồi nghiêm trang bước vào, ngồi lên cái ghế cao nhất trong quán. Hai đứa đầy tớ cung kính đệ điếu và tráp đến tận trước mặt. Thấy cử chỉ ấy, Thận Trung cũng như Xuân Hương, ai nấy đều giận đầy tiết, nhưng c̣n cố nhịn và đều ngồi vào chiếc ghế cạnh chơng bán hàng. Sau khi hút thuốc uống nước một cách trịnh trọng, ông Cống nh́n mặt Thận Trung mà hỏi: - Trông thầy h́nh như quen quen? Thận Trung cười khinh bỉ: - Ngài chóng quên nhỉ? Tôi là thằng Trung họ Đàm đây mà! Ông Cống càng làm ra bộ nghiêm nghị: - À phải? Thầy không nói th́ tôi không nhớ? Tôi nghe văn thầy cũng khá, làm sao không đậu? Thận Trung giả cách cung kính: - Bẩm tôi quên sách nhiều quá! - Đó là tại thầy không chịu học. Phải cố học đi mới được! - Tôi cũng muốn học, nhưng mà lắm chỗ quên lú không biết hỏi ai, hiện giờ cũng có câu không biết chữ ở sách nào, tiện thể gặp ngài, xin ngài làm ơn bảo cho? - Câu ǵ? Thận Trung khép nép đứng dậy chắp tay: - Bẩm ngài cái câu "xê ra cho bà đun bếp" xuất xứ ở đâu? Ông Cống hằm hằm đỏ mặt, đứng phắt dậy và nói lẩm bẩm: - Quân vô hạnh. Rồi mày sẽ biết tay tao. Tức th́ ông Cống lên vơng, giục lính khiêng đi cho chóng |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:45 AM Post #5 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Từ biệt phố Mă, Xuân Hương cùng Thận Trung, mỗi người một cáng, lẽo đẽo lên phủ Phủ B́nh. Đường núi quanh co, rậm rừng gai góc, hai người tuy ngồi trên cáng, không phải chạy bộ bước nào, nhưng mỗi khi lên đèo xuống dốc, ai nấy đều thấy như dốc ngược người đi. Dù vậy mặc ḷng, hai người vẫn đều vui vẻ, không lấy ǵ làm ngại. Là v́ ở đất đô hội, nh́n cảnh phồn hoa đă chán, nay được ngó cảnh đường rừng, cũng như vào chơi một thế giới khác, càng đi càng thấy nhiều vẻ đáng yêu. Ngày th́ chật vật trên đường, đêm vào ngủ trọ trong các thung lũng, dân Thổ dân Mán tưởng hai người là quan khách ở đường xuôi lên có việc ǵ, ḥ đều thừa tiếp một cách cung kính. Hai người tuy không thích vậy, nhưng cũng giả cách làm lơ, không dám nói thật rằng ḿnh đi chơi. Chừng năm, sáu ngày ǵ đó, đôi cáng nghễu nghện đến hạt Phủ B́nh. Trước mặt bỗng hiện một trái núi lớn. Hỏi ra mới biết đó là ngọn núi Độc Tôn, chúa tể của đám núi Tam Đảo, Xuân Hương liền hỏi Thận Trung: - Trong dăy núi này có một cổ tích, ḿnh có biết không? Thận Trung mỉm cười: - Khinh nhau làm ǵ vậy? Ḿnh c̣n biết, huống chi tôi. Xuân Hương cũng cười: - Cổ tích thế nào, ḿnh thử nói cho tôi nghe. - Di tích của Nguyễn Danh Phương chứ ǵ! Trong đời Cảnh Hưng, Danh Phương kéo quân chiếm trái núi này làm nơi sào huyệt để chống lại với triều đ́nh vua Lê. Bấy giờ ông ta làm đúng như một vị đế vương, cung lâu đài dựng ở trên núi rất nhiều, đồn ải dinh trại ông khắp các miền chung quanh. Lương thực khí giới, ông ta chứa cả ở đồn Ngọc Bội. Đó là nội đồn ở gần chân núi, rồi đến đồn Hương Ngạch gọi là trong đồn, ngoài nữa là đồn Ục Kỳ, gọi là ngoại đồn. Lại c̣n vô số chi đồn, rải rác đóng ở các nơi khác. Cứ như các cụ truyền lại, th́ quí mô của ông ta xếp đặt cũng khá vững chăi. Ruộng nương trong vùng này đều bị ông ta tịch biên, sai quân cày cấy lấy thóc để nuôi tướng sĩ. Những sản vật miền thượng du như: chè, sơn, nứa, gỗ, ch́, kẽm, vân vân đều bị ông ta chiếm cả. Lúa gạo, của cải tích ở các đồn nhiều lắm. Ba hạt Lâm Thao, Tam Đại, Đà Dương đều vào tay ông ta, quan quân nhà Lê lên đánh mấy năm, lần nào cũng thua liểng xiểng. Qua năm Canh Ngọ triều đ́nh sai Phạm Đ́nh Trọng thống lĩnh đại quân kéo lên. Ông này là tay danh tướng, biết cách hành binh. Lúc quân trẩy, ông ấy chia ra làm bốn đạo quân, đồng thời tiến vào. Nói đến đây, Thận Trung mở ống thuốc lá cuốn một mồi thuốc, chàng lấy đá lửa đánh lửa châm thuốc, vừa hút vừa tiếp: - Trước hết ông Phạm đem quân đánh đồn Ục Kỳ và chiếm luôn được đồn ấy. Các tướng bên kia thấy đồn Ục Kỳ đă đại bại ai nấy mất vía, đồn Hương Ngạnh chưa bị đánh chác ǵ cả, quân sĩ tự nhiên tản chạy... Ông Phạm thừa thế, tiến lên đánh đồn Ngọc Bội, quân của ông Phương phải rút lên núi Độc Tôn, quan quân lại đuổi lên tận sườn núi, đánh nhau ở đó một trận dữ lắm, quân ông Phương thua to, đêm ấy ông Phương phóng hỏa đốt hết nhà cửa kho đụn, rồi cùng các tướng đi trốn, ông Phạm tức th́ đốc quân đuổi theo. Tới huyện Lập Thạch, ông Phương bị bắt. Dứt mạch, chàng thở khói thuốc trong miệng, hài mắt lờ đờ nh́n Xuân Hương: - Có phải câu chuyện thế không? Hay là tôi có nói sai chỗ nào? Xuân Hương vẫn cười: - Phải! Đúng thế. Kể ra ông Nguyên Danh Phương cũng là một tay anh hùng đấy chứ! - Anh hùng lắm! Chẳng may gặp tay ông Phạm định Trọng, ông Phương mới bị tan tành. Nếu không có khi ông ta làm vua cũng nên. Xuân Hương cười chế riễu: - Ḿnh bảo làm vua th́ khó khăn ǵ. Tôi xem các vua mở nước đời trước lúc đầu phần nhiều là anh kẻ cướp, vây cánh mỗi ngày mỗi to th́ họ làm giặc. Giặc mà đắc thế th́ họ làm vua. Nói cho đúng anh nào bạo tay giết người, ấy là anh ấy làm vua, chẳng phải tài đức ǵ cả. - Th́ vẫn thế! Có lạ ǵ đâu? Nhưng, bạo tay giết người cũng là một cái tài của họ. Nếu bảo không phải là tài th́ sao tôi với ḿnh từ xưa đến giờ chưa giết được ai. Xuân Hương ra vẻ lả lơi: - Thôi đừng nói phiếm. Hăy lên trên núi coi thử di tích của ông Quận He ra sao. Hai người liền bảo phu cáng kẻ ôm vơng, người vác đ̣n theo ḿnh lên núi. Thoạt tiên hai người đến thăm dấu vết cung điện của Nguyễn Danh Phương. Tuy cái sào huyệt của viên đại tướng nay cây cối đă um tùm, cỏ gai rậm rạp, chỉ là hang tổ của giống cáo giống cầy, nhưng, trong những đám tro than đen xám, c̣n có thể nhận ra di tích lâu đài. Hai người ngậm ngùi than tiếc cho đời oanh liệt của ông chúa tể đường rừng, rồi cùng trở xuống đi xem mấy nơi Ngọc Bội, Hương Ngạnh và Ục Kỳ. Nh́n qua dấu tích của những dinh trại kho tàng c̣n lại, chàng và nàng đều phục Danh Phương là người thao lược, không kém những vua mở nước đời xưa. Thơ thẩn với núi rừng ít lâu, hai người lại cùng xuống núi, đêm ấy cả hai cùng ngủ trong một nếp nhà sàn ở chân làng Ngọc Bội. Hôm sau, Thận Trung chừng như đă mệt, muốn về Hà Nội nghỉ ngơi, Xuân Hương không nghe, nàng muốn lên phủ Thông Hóa viếng cảnh Ba Bể luôn thể. Bốn anh phu cáng cáng hai người từ phố Mă tới đó cũng đă nhọc lắm, thấy nói lên phủ Thông Hóa ai nấy đều sợ xanh mặt, họ bèn nói dối là không biết đường. Xuân Hương liền bảo thổ dân thuê hộ bốn người phu khác, trả tiền công cho bốn người này để họ trở về. Từ Ngọc Bội lên Thông Hóa đường đi rất xa và rất hiểm trở, người ở miền xuôi ít ai đă biết lối đi. Chỉ có thổ dân suốt đời luồn rừng, th́ họ mới thuộc. Tuy ở đường rừng, ít khi có người đi cáng nhưng bọn thổ dân sức lực khỏe lắm, hai người khiêng một mà họ lên đèo xuống đèo thường nhẹ tênh tênh. Vừa đi vừa xem phong cảnh rừng rú, có đêm ngủ luôn trong rừng, len lỏi luồn rúc gần một tháng trời, hai người mới lên đến châu Bạch Thông. Phu cáng đưa chàng và nàng vào nghỉ trong nhà một viên quan lang, sáng mai, Thận Trung bèn bảo quan lang cho người khiêng đôi song loan đưa chàng và Xuân Hương lên núi Côn Lôn coi cảnh Ba Bể. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:47 AM Post #6 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Xuân Hương giở tập Đường Thi ra coi, nàng thấy ư tứ trong thơ rất hợp với t́nh cảnh ḿnh, tức th́ nàng lấy giấy bút dịch ra một bài quốc âm như sau: Bởi tại t́m hoa quá chậm chân, Há nên ngao ngán oán ngày xuân, Gió đông bay hết màu tươi thắm, Quả trái đầy cành, bóng rợp sân Nàng ngó những cành hoa đào tan tác dưới sàn gác, nằm những quả đào non và lả đào xanh mơn mởn trên độc b́nh, rồi nàng lại ngâm đi ngâm lại hai câu: Gió đông bay hết màu tươi thắm Quả trái đầy cành, bóng rợp sân Lúc ấy trong ḷng càng thấy buồn bực, nàng liền nhớ lại những ngày c̣n để hồng mao mỗi khi gặp tiết đầu xuân, thường được theo mẹ đi chơi nhà các người họ hàng ở nhà quê, rồi những chị em bạn gái rủ nàng chui vào bờ bụi, t́m các thứ lá để đánh đố lá với nhau. Nàng v́ ở đất thị thành, không thuộc được nhiều tên bằng họ, lần nào đố lá nàng cũng thua họ, bị họ dần rát cả lưng và vẹo cả sườn. Thế mà ngoảnh đ́, ngoảnh lại, bây giờ nàng đă ngoài hai chục tuổi, những bạn đố lá ngày trước, ai nấy đều đă con bồng con mang. Chỉ riêng nàng hăy c̣n lắng đắng: "Tuổi xuân chẳng qua cũng như những cám hoa đào, nó chỉ tươi thắm được trong một th́, hết th́ tươi thắm ấy th́ hết xuân, ngh́n vàng không mua lại được". Nghĩ vậy, nàng liền đọc luôn đến câu phương dao: Chơi xuân kẻo hết xuân đi Cái già xồng xộc, nó th́ theo sau. Ngâm chưa dứt tiếng, dưới gác bỗng thấy có người gơ cửa. Nàng đẩy cửa sổ ngó ra, th́ ra Đàm Thận Trung đă đến. Mừng quá, nàng không rụt rè e lệ ǵ cả. Tự ḿnh chạy xuống mở cửa mời chàng lên gác. Con Nụ biết ư, xách chiếc ấm siêu xuống bếp đun nước, để gian pḥng gác mặc chủ và ông khách tự do. Chàng vừa ngồi đoạn, nàng liền đem chuyện cụ Nghè Hoàng ra nói: - Con gà hôm ấy đích là của mụ láng giềng không phải của cụ Nghè Hoàng. - Th́ chính thế, nếu là gà của cụ Nghè Hoàng sao khi thả ra, nó lại chạy tót về nhà mụ kia. - Chắc cụ muốn ăn xuưt con gà của họ để cúng. - Có lẽ thế. Nàng cười sằng sặc: - Gớm chửa, văn hay, học rộng, mở miệng nói toàn giọng đạo đức thánh hiền, thế mà dám ăn cắp gà của người ta đấy. Đáng chán chưa? Có lẽ những ông thâm nho toàn là hạng người đi ăn cắp gà tất cả. Thận Trung sầm mặt: - Ḿnh không được phép nói hỗn thế. Nho cũng tùy người, không phải ai cũng như ai. Nếu ḿnh muốn nhân việc ăn cắp gà của cụ Nghè Hoàng mà kết án chung mấy ông lên mặt đạo đức, th́ phải nói thử thế này... - Nói như thế nào? - Nói rằng bao nhiêu cụ Nghè ngày nay toàn là người ăn cắp gà tất cả, thế mới đúng. Hai người cùng cười rầm nhà. Ngọn gió hiu hiu qua cửa sổ thổi vào án sách, một mảnh hoa tiêu trong đống sách phấp phới bay ra giữa nhà, Xuân Hương toan tính nhặt lấy dấu đi, nhưng chưa kịp nhặt, tờ giấy đă bị vào tay Thận Trung. Chàng đưa lên nh́n, chính là bài thơ vô đề của nàng mới làm trong mấy bữa nay. Gật gù, chàng vừa cười vừa đọc: - Canh khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế, khuyết hay tṛn Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy ḥn. Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh t́nh san sẻ tí con con. Đọc đi đọc lại đến ba bốn lần, thấy trong thơ chứa chan t́nh hứng, làm cho chàng không thể nén được ngọn lửa trong buồng gan. Bỏ tờ hoa tiên xuống án, chàng đứng dậy, ôm nàng vào ḷng và đặt trên đôi má hồng của nàng bốn, năm cái hôn nồng nàn. Nàng không cự nhưng h́nh như cũng sượng sùng, hai má đỏ bừng, vừa cười nàng vừa nói bằng giọng ỡm ờ: - Ô hay! Làm ǵ thế? Làm cái ǵ thế? Thang gác có tiếng th́nh thịch, hai người vội buông nhau ra, con Nụ vừa xách ấm nước sôi lên. Lấy đủ ấm chén pha nước đặt lên trên yên, nó lại lùi xuống dưới gác. Thận Trung không đợi Xuân Hương mời chào, chàng lại cầm ấm rót lấy mà uống. Một nụ cười nở trên cặp môi son, nàng nh́n Thận Trung và hỏi: - Hôm nay ăn cơm chiều ở đây chứ? - Chẳng ăn ở đây th́ ăn ở đâu? Nàng liền xuống gác đưa tiền cho con Nụ đi chợ mua đồ làm cơm. Gần tối, đồ ăn làm xong, con Nụ bưng mâm lên, hai người cùng ngồi một mâm, vừa uống rượu, vừa xướng họa, đêm ấy Thận Trung cùng nàng ngủ chung một giường. Sáng hôm sau, mặt trời lên khỏi ngọn cây, ánh nắng chiếu xuống Hồ Tây lóng lánh, hai người mới cùng trở dậy, ai nấy c̣n uổn vai, ngáp vặt nh́n nhau bằng cặp mắt sượng sùng. Tan cuộc nước chè, Thận Trung vui vẻ bảo nàng: - Trước kia nghe bài tự t́nh của ḿnh đưa vào trong trường cụ Nghè, tôi vẫn không tin, ư tôi cho rằng trong lúc ḿnh ở nhà lăo Quyền Chưởng Vệ, cũng như mỡ để miệng mèo, tất nhiên lăo ấy không để cho ḿnh vân lành. Bây giờ mới biết là tôi đoán sai... Xuân Hương không trả lời, nàng chỉ mỉm cười một cách chua chát. Hồi lâu, nàng bảo con Nụ mua đồ ăn sáng, để nàng sắp đi chơi xa. Muốn tránh sự bàn tán lôi thôi của những người ngứa miệng, nàng lại ăn mặc giả trai như hôm vào thăm cụ Nghè Hoàng. Lần ấy là lần đầu nàng cùng người bạn trai đi chơi sơn thủy, chàng muốn vào thẳng Thanh Hóa ngoại trấn viếng chùa Non Nước, rồi xuống luôn huyện Gia Viễn thăm động Hoa Lư. Nhưng nàng không thích đi về hướng ấy, và nàng khuyên hăy lên coi qua rừng trên vùng Thái Nguyện. Ư chàng vốn không nhất định đi đâu v́ đi đâu cũng là ải chơi, không có sự ǵ quan hệ, cho nên nàng định thế nào, chàng cũng theo thế ấy. Hai người thuê hai chiếc cáng theo huyện Kim Anh đi lên, khi tới phố Mă th́ trời vừa tối, phải vào ngủ trong nhà trọ. Sáng mai mờ đất đă toan trở dậy lên đường, nhưng v́ ở đó là nơi đồng rừng, hết giờ măo chưa tan sương mù, nên chàng khuyên nàng hăy nên thong thả. Bỗng thấy ở nhà bên cạnh có tiếng trẻ học, nàng cười và bảo với chàng: - Ai ngờ ở trong hang sâu cũng có tiếng chân ngưu mục đi . Ta thử vào chơi xem sao. Rồi nàng gọi hỏi nhà trọ xem rằng thầy đồ dạy học bên ấy tên họ là ǵ, tính hạnh ra sao, người chủ trọ đáp: - Chúng tôi chỉ thấy gọi là ông Cống Tuyên Quang, về đây bảo trẻ đă hai năm nay, tính hạnh rất thuần thục, và rất nghiêm nghị. Trong hai năm nay, ngoài nhà chú nuôi cơm, ông ấy chưa hề chơi bời với ai. - Chúng tôi muốn sang thăm ông có tiện không nhỉ? - Cái đó chúng tôi không biết. Nhưng ông cứ sang, nghe đâu bên ấy cũng có ông Nghè Hưng Hóa về chơi với ông Cống đă mấy bữa nay. Nghe nói, nàng liền bảo chàng : - Quái lạ! Hưng Hóa Tuyên Quang cũng có ông Nghè, ông Cống, văn học đường rừng cũng thịnh đấy chứ. Rồi chàng và nàng cùng dắt nhau sang nhà láng giềng, nói là bọn lái buôn đi đường, nghe tin ở đây có ông Cống bảo trẻ, nên muốn vào thăm ông và xem cách thức học hành thế nào. Th́ ra cách nói đôi ấy rất trúng với ư ông Cống. Từ trước đến giờ, ông Cống không thèm tiếp một người nào là khách hết, trừ ra ông Nghè Hưng Hóa là bạn chí thân của ngài. Nhưng nếu nói là lái buôn hoặc lư dịch chi đó, th́ ngài rất vui ḷng khoản đăi, có khi chè chén đến năm, bảy bữa, ngài cũng không hề phàn nàn. Hai người tiến vào trong nhà, cung kính lạy chào ông Nghè, ông Cống, rồi theo lời mời của ông Cống hai người cùng ngồi vào dăy ghế của học tṛ ngồi. Ông Cống giới thiệu cho hai người biết ông khách của ngài là một ông tiên sĩ ở đạo Hưng Hóa, rồi ngài lại tự giới thiệu cho ngài. Đúng như lời mụ chủ trọ đă nói, ngài tự xưng ḿnh là ông Hương Cống ở đạo Tuyên Quang. Hai người chỉ vâng vâng, dạ dạ, tỏ ư kính trọng. Ngoài ngơ có tiếng chó sủa, một lớp ăn mày tiến vào với cái niêu đất và một tấm áo tơi xù. Trong nhà, ông ra lệnh cho cậu học tṛ học rối học rít để che lấp tiếng lạy ông lạy bà của kẻ khốn khó. Một cậu học tṛ ch́a sách đến hỏi ông Cống: - Thưa thầy chữ ǵ! Vụt cây roi mây xuống phản, ông Cống thét thật lớn: - Cảm dung là đất Cẩm Dương. Cậu bé liền nghêu ngao học: - Bái công binh chí Cẩm Dương, ông Bái Công quân đến đất Cẩm Dương. Ông Nghê Hưng Hóa vội ngắt câu nói: - Không phải Cẩm Dương, sao ông dạy càn con cái người ta thế? Ông Cống trừng mắt: - Chằng phải Cẩm Dương th́ là chữ ǵ? Ông Nghê dơng dạc: - Ông dốt lắm, không trách ông đồ đại khoa... Ấy là Hàm Thang là đất Hàm Thang chứ ǵ. Ông Cống gân cổ căi lại: - Tôi nhất định không chịu. Rồi hai ông căi nhau lộn bậy, một ông quyết là Cẩm Dương, một ông quyết là Hàm Thang. Ông nọ mắng ông kia ngu, ông kia lại bảo ông nọ dốt. Xuân Hương và Thận Trung bấm bụng ngồi im không dám cười. Ông lăo ăn mày ngoài sân ngứa miệng nói vào: - Thưa lạy hai ngài, cho tôi xin nói. Ông Nghè, ông Cống cùng chạy xô ra thét hỏi: - Lăo ăn xin cũng biết chữ à! - Dạ bẩm hai ngài, thuở nhỏ chúng tôi cũng có theo đ̣i nghiên bút, bây giờ c̣n nhớ ít nhiều, cái câu cậu bé đang học đó là câu ở sách Hán Cao Tổ phải không, thưa hai ngài ! Hai ông cùng nói: - Phải đấy? Thế lăo bảo trong hai chúng ta ai dốt, ai không dốt? - Bẩm cả hai ngài cùng dốt. Không phải Hàm Thang, cũng không phải Cẩm Dương. Hai ông cùng sấn sổ: - Thế th́ mày bảo nó là chữ ǵ? - Bẩm hai ngài, nó là chữ Hàm Dương, hai ngài mỗi ngài trúng một chữ, nhưng mỗi ngài lầm một chữ. Tức th́ hai ông cùng nổi trận lôi đ́nh, chạy lại túm lăo ăn mày toan đánh, Xuân Hương, Thận Trung thương hại vội vàng chạy ra cố can. Hai ông chừng cũng nể mặt khách lạ, bèn tha tội cho lăo ăn mày, không đánh nhưng họ bắt mất cái niêu đem đập vỡ tan. Lăo ăn mày cám cảnh, ngồi ở trước cổng khóc ru khóc rưởi. Một lúc sau lăo mới xù x́ khoác chiếc áo tơi đi ra, để lại tường cổng mấy chữ thảo. Xuân Hương và Thận Trung chán chuyện ông Nghè ông Cống đứng dậy cáo từ trở ra. Tới cổng thấy có mấy ḍng chữ nét mực chưa ráo, lối chữ rất già và rất tươi. Hai người cùng đứng lại nh́n, té ra một bài tứ tuyệt. Xuân Hương liền lầm rầm đọc: - Ông Nghè Hưng Hóa, Cống Tuyên Quang Chết dẫm, xưng chân cũng một tuồng. Ma thiêng chẳng đánh hai thằng chết Đập vỡ niêu tao đất Cẩm Thang. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:48 AM Post #7 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Phố phường Hà Nội đă hết vẻ nhộn nhịp của năm mới, xác pháo ngoài đường đều bị vùi dập dưới tầng đất lấm, câu đối xanh đỏ ở các đường ngơ đều phải hoen ố v́ những giọt mưa xuân. Những nhà buôn bán lần lượt mở cửa bán hàng. Những bà, những cô phong lưu thi nhau thắng áo mới, sắm vàng hương, để đem đầu vào các đền các miếu. Xuân Hương ṿ vọ ngồi trong thư pḥng, nàng tự thấy ḿnh như không chống nổi sự buồn bă của cảnh hiu quạnh. Rồi ḷng xuân phơi phới giục nàng phải nhớ đến Đàm Thận Trung. Từ ngày hẹn nhau vào nhà cụ Nghè Hoàng, chàng thường lui tới nhà nàng luôn luôn. Trong lúc cùng nhau tṛ chuyện nàng vẫn để ư xem xét, và đă nhận chàng là kẻ khoáng đạt, hoà nhă không câu nệ, giả dối như các ông nho sĩ khác. V́ thế, t́nh ư hai bên mỗi ngày mỗi thêm thân mật, chàng coi nàng là bạn tâm đầu ư hợp, nàng cũng coi chàng là tri kỷ của ḿnh. Hồi cuối năm ngoái, không ngày nào chàng không đến chơi nhà nàng. Tuy giữa hai người chưa hề có chút bờm xờm lả lơi, nhưng sự ăn ở, đối đăi đă gần giống như người một nhà, có khi nàng đă lưu chàng ăn ngủ luôn ở nhà ḿnh, mà không lấy làm e lệ. V́ năm hết, tết đến, theo tục, chàng phải về quê, trước khi từ biệt phường Khán Xuân, chàng đă hẹn nàng đoạn tết lại sang rồi cùng đi chơi các nơi hang động, núi rừng, để ngắm cảnh đẹp của trời đất. Vậy mà qua tết đă hơn mười ngày, vẫn chưa thấy chàng tới nơi, cho nên nàng nóng ruột. Phải, nàng không phải là loại gỗ đá, tất nhiên cũng có dục t́nh, trong bấy nhiêu ngày, lửa đă gần rơm, dù hai bên vẫn cố giữ cho nó không thể bùng lên, nhưng sự thực, ở trong ḷng nàng, cũng như ở trong ḷng chàng, lửa ấy vẫn cứ cháy ngấm cháy ngầm, vắng chàng lúc nào, ấy là nàng phải buồn tẻ lúc ấy. Mấy cành bích đào trên lọ đă bắt đầu nẩy những lá non, cánh hoa tươi thắm lả tả rơi rụng khắp nhà, đầu cành trơ những quả non nhu nhú. Sự thay đổi của hoa cảnh nhắc lại cho nàng bài thơ "Tiếc xuân" của chàng Đỗ Mục ngày xưa. Trong những thi nhân đời Đường, Đỗ Mục là người rất đa t́nh. Khi chàng ra chơi Hồ Châu, viên thứ sử ở đó là Ưng Quân Tố muốn ch́u ư bạn, gọi hết con hát trong quận đến cho chàng coi, chàng không vừa ư một ả nào hết. Rồi chàng xin cho viên thứ sử mở hội, bày các tṛ vui dưới nước cho người trong quận đến coi, để chàng kén xem có người con gái nào đẹp hay không! Viên thứ sử cũng xin vâng lời. Đúng ngày mở hội, người ta đến coi chật cả hai bên bờ sông. Đỗ Mục đi ngắm khắp lượt, vẫn không có ai vừa ư. Th́nh ĺnh có một mụ già dắt đứa con gái c̣n để hồng mao đi vào. Mục coi hồi lâu liền bảo với viên thứ sử, con bé ấy thực là một bậc quốc sắc, viên thứ sử tức th́ cho đón vào thuyền. Mục ngỏ ư muốn hỏi làm vợ. Cả mụ già lẫn cô bé con nghe nói đều sợ không dám nhận lời. Mục nói ta không cưới ngay bây giờ, chỉ đính hẹn với mẹ con nàng mà thôi. Sau mười năm nữa, tất nhiên ta ra làm quan hạt này. Nếu mười năm nữa mà ta không ra, th́ cho tùy nàng muốn đi lấy ai th́ lấy. Khi ấy Mục đưa rất nhiều tiền cho mẹ con nàng để làm tiền cưới. Khi về triều, Mục v́ quan thấp, chức nhỏ không dám xin ra Hồ Châu. Tới lúc được ra Hồ Châu, tính ra đă mười bốn năm. Lập tức cho đ̣i người con gái ấy th́ nàng không đến, chỉ có mẹ nàng vào ra mắt Mục, nói rằng: Khi trước ông hẹn mười năm nhưng hết mười năm, không thấy ông ra, tôi gả chồng cho cháu đă ba năm nay, cháu đă sinh được ba đứa con rồi. Mục cúi đầu ngẫm nghĩ rồi bảo các bạn, lư của họ thắng, ḿnh không nên cưỡng. Luôn đó, Mục tiễn bà lăo ra cổng một cách kính trọng, nhưng Mục vẫn ngậm ngùi tiếc người con gái, mới ngâm một bài "Tiếc xuân". |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:48 AM Post #8 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Cụ lại ngậm tăm xỉa răng, một hồi, rồi nói: - Thầy muốn hỏi tôi về cách lập thân xử thế ? - Dạ. - Thầy biết nghĩ vậy th́ cũng khá đấy! Năm nay thầy bao nhiêu tuổi? - Dạ, bẩm cụ, chúng con đă hai nhăm tuổi. - Ừ đương lúc niên thiếu lực cường. . . Thầy đỗ sinh đồ từ năm nào? - Bẩm cụ, chúng con mới đậu khoa trước? - Năm nay thầy không đi thi? - Dạ, bẩm có. Nhưng chúng con hỏng ngay từ kỳ đệ nhị. - Năm nay các đầu bài thi cũng nhẹ cả mà? Sao thầy lại hỏng đệ nhị? Chắc thầy kém về tứ lục! - Dạ. - Thế th́ thầy phải cố công rèn tập để đến khoa sau lại thi. - Dạ. - Làm người học tṛ, ai ai cũng mong thi đỗ, nhưng theo ư ta, đỗ hay không đỗ, cái đó chưa quan hệ lắm. Cần nhất phải giữ cho phẩm hạnh đoan chính cái đă. Nếu như phẩm hạnh không ra ǵ, th́ càng đỗ to bao nhiêu, lại càng làm hại dân nước bấy nhiêu, Vương Án Thạch, Lă Di Đản đều đỗ Trạng nguyên cả đấy, thế mà chỉ v́ phẩm hạnh bất chính, làm càn làm bậy, muôn đời mang tiếng là kẻ gian thần, các thầy đọc sử, chắc cũng biết cả. - Dạ bẩm, chúng con cũng nghĩ như thế nên phải t́m đến cửa cụ, mong cụ chỉ đường dẫn lối, cho con được rạng mặt thêm ra. - Tôi không phải là thánh hiền ǵ đâu. Nhưng tôi học sách thánh hiền đă nhiều, biết theo ư của thánh hiền, từ một việc làm đến một câu nói, tôi không dám sai lời thánh hiền bao giờ... - Bẩm cụ, đối với ngày nay, cụ thật là một cây cột đă đứng vững giữa ḍng nước chảy? Cụ lại vuốt râu mà cười ha hả: - Thầy cũng biết như thế à? Được! Cho thầy ngồi. Xuân Hương lại khiêm tốn ngồi vào chỗ cũ. Cụ Nghè ngảnh mặt sang phía Thận Trung và bảo: - Anh Trung hăy sang bên này mà ngồi. Đó là thầy Phạm Khắc Kính, sinh đồ ở Thanh Hóa ngoài, thầy ấy với các anh cũng là chỗ thanh khí với nhau tất cả. Thận Trung cố sức nhịn cho khỏi cười, rồi chàng đứng dậy rón rén đi sang bên này cúi chào Xuân Hương và ngồi vào cùng ghế nàng. Cụ Nghè lại trông Xuân Hương rồi nói: - Thầy chắc không biết anh này là ai? - Dạ bẩm không. - Đó là anh Đàm Thận Trung học khá nhất trường tôi, bài tập tứ lục trong mấy kỳ này của anh ấy tối đều phê "ưu" cho cả. Sau này nếu thầy muốn giỏi tứ lục, th́ phải ở cùng với anh ta. - Dạ, chúng con cũng ước ao được thế. Cụ lại trông mặt Thận Trung và nói một cách thẻ thọt: - Tứ lục của anh th́ khá, nhưng tính nết của anh hăy c̣n chưa chín. Những chuyện bông phào lấc cấc, rất có hại cho sĩ hạnh, anh nên tự biết mà chừa dần đi, chớ để cho thầy mang tiếng. Thận Trung vội dạ một tiếng rất lễ độ, cụ Nghè lại tiếp: - Thầy đồ Thanh Hóa muốn hỏi ta về cách lập thân xử thế, ấy là thầy đă biết nghĩ, có thể dạy được. Tiện thể ta nói cả cho anh Trung cùng nghe: Trong sự tu thân, cốt nhất là phải chính tâm thành ư, ở sách lại học đă nói: "Muốn làm rơ rệt "đức sáng" của ḿnh ra gầm trời, trước hết phải trị nước ḿnh, muốn trị nước ḿnh, trước hết phải tẩy nhà ḿnh; muốn tẩy nhà ḿnh, trước hết phải sửa thân ḿnh; muốn sửa thân ḿnh; trước hết phải chính ḷng ḿnh; muốn chính ḷng ḿnh, trước hết phải thật ư ḿnh. Thật ư ḿnh là ǵ? Nghĩa là lúc nào cũng vậy, ư nghĩ của ḿnh cứ phải thật thà dù rằng trong lúc đêm khuya, trong nơi người vắng, không có ai biết, ḿnh lại dối ḿnh, các thầy nghe chưa?"? Hai người cùng "dạ" ; cụ Nghè nhấp giọng một hớp nước nụ, thở một hơi dài, lâu lâu cụ ra mặt buồn rầu và thêm: - Bây giờ thói đời mỗi ngày mỗi kém, lặng người không giống ngày xưa, thiên hạ chỉ đua nhau đi về đường điêu trá gian ngoan, không coi lễ, nghĩa, trung, tín là cái ǵ cả. Thấy vậy, ta rất lấy làm lo phiền. Hai người cúi mặt im lặng, như có ư để tai nghe ngóng, cụ bỗng chép miệng một cái, rồi nói ra dáng tức giận: - Nhất là cái thành Hà Nội lại càng tệ hại hơn các nơi khác. Bởi v́ ở đây là đất phồn hoa đô hội, người ta chỉ biết vụ lợi, không biết trọng nghĩa, cho nên nhân tâm lại càng kiêu bạc. Rồi cụ sai cậu học tṛ đánh đá lấy lửa, giắt mồi thuốc lào vào nơ điếu ống: cụ vít xe điếu hút ṣng sọc mấy tiếng. Giây lát, cụ nh́n Xuân Hương và hỏi: - Thầy đồ Thanh Hóa có biết con Hồ Xuân Hương ở ngoài này không? Xuân Hương vội làm ra vẻ nghiêm nghị: - Dạ, bẩm cụ, chúng tôi có nghe thấy anh em nói chuyện, nhưng không biết rơ cô ta ra sao? Nét mặt hằm hằm cụ nói: - Nó là con yêu con quái giáng sinh, để làm nhơ bẩn sĩ phong đời nay. Cứ như người ta nói lại với ta, th́ nó cũng có học ít nhiều, có biết làm thơ, thơ của nó toàn là thơ nôm, không có câu nào là không ngụ ư đĩ thơa. Thế mà trong đám sĩ lâm cũng có nhiều người truyền tụng, anh nọ đọc lại cho anh kia nghe. Như thế, thế đạo sĩ phông phổng c̣n ra tṛ ǵ nữa! Ta lo rằng chẳng bao lâu nữa, người đời sẽ hóa cầm thú hết cả. Cụ đương nói dở, đằng sau bỗng có tiếng chân chạy th́nh thịch. Một tên nhà bếp tiến lại phía trước án thư với sắc mặt xám mét. Cụ Nghè ngạc nhiên và hỏi: - Mày muốn nói ǵ? - Bẩm cụ... Nói được hai tiếng, đứa nhà bếp lại đứng thừ ra, đầu lưỡi ngập ngừng, dường như không dám nói nữa, cụ gặng: - Cái ǵ, cứ nói! Tên nhà bếp lại ngập ngừng cố nói hai tiếng "bẩm cụ", rồi hắn lại im, cụ phát cáu: - Bẩm cụ cái ǵ mới được chứ? Làm sao hỏi măi không nói? - Bẩm cụ con mẹ hàng gà... - Con mẹ hàng gà làm sao? - Bẩm cụ, con mẹ hàng gà nó vẫn ngồi ở nhà dưới. - Nó ngồi ở nhà dưới làm ǵ? Chúng bay có mua bán tằng tịu ǵ với nó không? - Bẩm không. - Thế th́ đuổi cổ nó đi! Có việc thế cũng phải hốt hoảng, thôi xuống dưới ấy. Tên nhà bếp lại nói bằng giọng ấp úng: - Bẩm cụ con gà hôm nọ cụ sai con đem nhốt vào chuồng, bây giờ thả ra, nó nhận là gà của nó. Cụ Nghè cau đôi lông mày trên bộ mặt đỏ bừng: - Của nó là của thế nào? Bảo nó muốn sống về ngay, nếu c̣n nhận láo th́ ông đánh cho dập xác ra. - Bẩm cụ, con đă bảo thế nhưng mà con mụ ấy ghê gớm lắm, nó cứ nhất định bắt gà đem về, và nói rằng: Nếu không trả gà cho nó, th́ nó sẽ đứng đấy coi gà để cho con nó đi tŕnh ông Thiên Hộ. Cụ Nghè đập tay xuống án thư: - À láo? con mụ láng giềng này láo thật, dám đem thằng Thiên Hộ mà dọa người nhà ông à? Mày bảo nó nếu nó đi tŕnh Thiên Hộ, th́ ông bảo quan Tổng đốc bỏ cả Thiên Hộ vào ngục. Tên nhà bếp dạ một tiếng lớn, rồi chạy thẳng xuống. Giây lát nó lại tất tả chạy lên: - Bẩm cụ, con mụ bướng lắm. Con đuổi thế nào nó cũng không về, nó nói láo rằng: của nó nó nhận, quan Tổng đốc cũng đến "phải" th́ thôi. Cụ Nghè thở dài: - Dân phong ngang ngạnh đến thế, có đáng ghét không? Xuân Hương ngứa miệng, giả cách lễ phép đứng dậy và bảo tên nhà bếp: - Anh không cần căi vă với kẻ tiểu nhân vô lễ làm ǵ ; cứ bắt đem con gà ấy thả ra ngoài cổng, hễ nó chạy về nhà kia th́ là gà của nhà kia, mà nếu nó lại chạy về nhà này, th́ là gà của nhà này. Cụ Nghè chưa kịp bảo sao, tên nhà bếp đă lật đật chạy xuống. Mở quả trầu lấy trầu, cau và cái cối ngà đưa cho Thận Trung đem giă, cụ Nghè đương sắp tiếp theo câu chuyện đạo đức, th́ tên nhà bếp lại hốt hoảng chạy lên, vừa thở vừa nói: - Bẩm cụ, con mới đem thả con gà ra cổng, nó đă chạy tọt vào nhà con mụ hàng gà. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:49 AM Post #9 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Cụ lại ngậm tăm xỉa răng, một hồi, rồi nói: - Thầy muốn hỏi tôi về cách lập thân xử thế ? - Dạ. - Thầy biết nghĩ vậy th́ cũng khá đấy! Năm nay thầy bao nhiêu tuổi? - Dạ, bẩm cụ, chúng con đă hai nhăm tuổi. - Ừ đương lúc niên thiếu lực cường. . . Thầy đỗ sinh đồ từ năm nào? - Bẩm cụ, chúng con mới đậu khoa trước? - Năm nay thầy không đi thi? - Dạ, bẩm có. Nhưng chúng con hỏng ngay từ kỳ đệ nhị. - Năm nay các đầu bài thi cũng nhẹ cả mà? Sao thầy lại hỏng đệ nhị? Chắc thầy kém về tứ lục! - Dạ. - Thế th́ thầy phải cố công rèn tập để đến khoa sau lại thi. - Dạ. - Làm người học tṛ, ai ai cũng mong thi đỗ, nhưng theo ư ta, đỗ hay không đỗ, cái đó chưa quan hệ lắm. Cần nhất phải giữ cho phẩm hạnh đoan chính cái đă. Nếu như phẩm hạnh không ra ǵ, th́ càng đỗ to bao nhiêu, lại càng làm hại dân nước bấy nhiêu, Vương Án Thạch, Lă Di Đản đều đỗ Trạng nguyên cả đấy, thế mà chỉ v́ phẩm hạnh bất chính, làm càn làm bậy, muôn đời mang tiếng là kẻ gian thần, các thầy đọc sử, chắc cũng biết cả. - Dạ bẩm, chúng con cũng nghĩ như thế nên phải t́m đến cửa cụ, mong cụ chỉ đường dẫn lối, cho con được rạng mặt thêm ra. - Tôi không phải là thánh hiền ǵ đâu. Nhưng tôi học sách thánh hiền đă nhiều, biết theo ư của thánh hiền, từ một việc làm đến một câu nói, tôi không dám sai lời thánh hiền bao giờ... - Bẩm cụ, đối với ngày nay, cụ thật là một cây cột đă đứng vững giữa ḍng nước chảy? Cụ lại vuốt râu mà cười ha hả: - Thầy cũng biết như thế à? Được! Cho thầy ngồi. Xuân Hương lại khiêm tốn ngồi vào chỗ cũ. Cụ Nghè ngảnh mặt sang phía Thận Trung và bảo: - Anh Trung hăy sang bên này mà ngồi. Đó là thầy Phạm Khắc Kính, sinh đồ ở Thanh Hóa ngoài, thầy ấy với các anh cũng là chỗ thanh khí với nhau tất cả. Thận Trung cố sức nhịn cho khỏi cười, rồi chàng đứng dậy rón rén đi sang bên này cúi chào Xuân Hương và ngồi vào cùng ghế nàng. Cụ Nghè lại trông Xuân Hương rồi nói: - Thầy chắc không biết anh này là ai? - Dạ bẩm không. - Đó là anh Đàm Thận Trung học khá nhất trường tôi, bài tập tứ lục trong mấy kỳ này của anh ấy tối đều phê "ưu" cho cả. Sau này nếu thầy muốn giỏi tứ lục, th́ phải ở cùng với anh ta. - Dạ, chúng con cũng ước ao được thế. Cụ lại trông mặt Thận Trung và nói một cách thẻ thọt: - Tứ lục của anh th́ khá, nhưng tính nết của anh hăy c̣n chưa chín. Những chuyện bông phào lấc cấc, rất có hại cho sĩ hạnh, anh nên tự biết mà chừa dần đi, chớ để cho thầy mang tiếng. Thận Trung vội dạ một tiếng rất lễ độ, cụ Nghè lại tiếp: - Thầy đồ Thanh Hóa muốn hỏi ta về cách lập thân xử thế, ấy là thầy đă biết nghĩ, có thể dạy được. Tiện thể ta nói cả cho anh Trung cùng nghe: Trong sự tu thân, cốt nhất là phải chính tâm thành ư, ở sách lại học đă nói: "Muốn làm rơ rệt "đức sáng" của ḿnh ra gầm trời, trước hết phải trị nước ḿnh, muốn trị nước ḿnh, trước hết phải tẩy nhà ḿnh; muốn tẩy nhà ḿnh, trước hết phải sửa thân ḿnh; muốn sửa thân ḿnh; trước hết phải chính ḷng ḿnh; muốn chính ḷng ḿnh, trước hết phải thật ư ḿnh. Thật ư ḿnh là ǵ? Nghĩa là lúc nào cũng vậy, ư nghĩ của ḿnh cứ phải thật thà dù rằng trong lúc đêm khuya, trong nơi người vắng, không có ai biết, ḿnh lại dối ḿnh, các thầy nghe chưa?"? Hai người cùng "dạ" ; cụ Nghè nhấp giọng một hớp nước nụ, thở một hơi dài, lâu lâu cụ ra mặt buồn rầu và thêm: - Bây giờ thói đời mỗi ngày mỗi kém, lặng người không giống ngày xưa, thiên hạ chỉ đua nhau đi về đường điêu trá gian ngoan, không coi lễ, nghĩa, trung, tín là cái ǵ cả. Thấy vậy, ta rất lấy làm lo phiền. Hai người cúi mặt im lặng, như có ư để tai nghe ngóng, cụ bỗng chép miệng một cái, rồi nói ra dáng tức giận: - Nhất là cái thành Hà Nội lại càng tệ hại hơn các nơi khác. Bởi v́ ở đây là đất phồn hoa đô hội, người ta chỉ biết vụ lợi, không biết trọng nghĩa, cho nên nhân tâm lại càng kiêu bạc. Rồi cụ sai cậu học tṛ đánh đá lấy lửa, giắt mồi thuốc lào vào nơ điếu ống: cụ vít xe điếu hút ṣng sọc mấy tiếng. Giây lát, cụ nh́n Xuân Hương và hỏi: - Thầy đồ Thanh Hóa có biết con Hồ Xuân Hương ở ngoài này không? Xuân Hương vội làm ra vẻ nghiêm nghị: - Dạ, bẩm cụ, chúng tôi có nghe thấy anh em nói chuyện, nhưng không biết rơ cô ta ra sao? Nét mặt hằm hằm cụ nói: - Nó là con yêu con quái giáng sinh, để làm nhơ bẩn sĩ phong đời nay. Cứ như người ta nói lại với ta, th́ nó cũng có học ít nhiều, có biết làm thơ, thơ của nó toàn là thơ nôm, không có câu nào là không ngụ ư đĩ thơa. Thế mà trong đám sĩ lâm cũng có nhiều người truyền tụng, anh nọ đọc lại cho anh kia nghe. Như thế, thế đạo sĩ phông phổng c̣n ra tṛ ǵ nữa! Ta lo rằng chẳng bao lâu nữa, người đời sẽ hóa cầm thú hết cả. Cụ đương nói dở, đằng sau bỗng có tiếng chân chạy th́nh thịch. Một tên nhà bếp tiến lại phía trước án thư với sắc mặt xám mét. Cụ Nghè ngạc nhiên và hỏi: - Mày muốn nói ǵ? - Bẩm cụ... Nói được hai tiếng, đứa nhà bếp lại đứng thừ ra, đầu lưỡi ngập ngừng, dường như không dám nói nữa, cụ gặng: - Cái ǵ, cứ nói! Tên nhà bếp lại ngập ngừng cố nói hai tiếng "bẩm cụ", rồi hắn lại im, cụ phát cáu: - Bẩm cụ cái ǵ mới được chứ? Làm sao hỏi măi không nói? - Bẩm cụ con mẹ hàng gà... - Con mẹ hàng gà làm sao? - Bẩm cụ, con mẹ hàng gà nó vẫn ngồi ở nhà dưới. - Nó ngồi ở nhà dưới làm ǵ? Chúng bay có mua bán tằng tịu ǵ với nó không? - Bẩm không. - Thế th́ đuổi cổ nó đi! Có việc thế cũng phải hốt hoảng, thôi xuống dưới ấy. Tên nhà bếp lại nói bằng giọng ấp úng: - Bẩm cụ con gà hôm nọ cụ sai con đem nhốt vào chuồng, bây giờ thả ra, nó nhận là gà của nó. Cụ Nghè cau đôi lông mày trên bộ mặt đỏ bừng: - Của nó là của thế nào? Bảo nó muốn sống về ngay, nếu c̣n nhận láo th́ ông đánh cho dập xác ra. - Bẩm cụ, con đă bảo thế nhưng mà con mụ ấy ghê gớm lắm, nó cứ nhất định bắt gà đem về, và nói rằng: Nếu không trả gà cho nó, th́ nó sẽ đứng đấy coi gà để cho con nó đi tŕnh ông Thiên Hộ. Cụ Nghè đập tay xuống án thư: - À láo? con mụ láng giềng này láo thật, dám đem thằng Thiên Hộ mà dọa người nhà ông à? Mày bảo nó nếu nó đi tŕnh Thiên Hộ, th́ ông bảo quan Tổng đốc bỏ cả Thiên Hộ vào ngục. Tên nhà bếp dạ một tiếng lớn, rồi chạy thẳng xuống. Giây lát nó lại tất tả chạy lên: - Bẩm cụ, con mụ bướng lắm. Con đuổi thế nào nó cũng không về, nó nói láo rằng: của nó nó nhận, quan Tổng đốc cũng đến "phải" th́ thôi. Cụ Nghè thở dài: - Dân phong ngang ngạnh đến thế, có đáng ghét không? Xuân Hương ngứa miệng, giả cách lễ phép đứng dậy và bảo tên nhà bếp: - Anh không cần căi vă với kẻ tiểu nhân vô lễ làm ǵ ; cứ bắt đem con gà ấy thả ra ngoài cổng, hễ nó chạy về nhà kia th́ là gà của nhà kia, mà nếu nó lại chạy về nhà này, th́ là gà của nhà này. Cụ Nghè chưa kịp bảo sao, tên nhà bếp đă lật đật chạy xuống. Mở quả trầu lấy trầu, cau và cái cối ngà đưa cho Thận Trung đem giă, cụ Nghè đương sắp tiếp theo câu chuyện đạo đức, th́ tên nhà bếp lại hốt hoảng chạy lên, vừa thở vừa nói: - Bẩm cụ, con mới đem thả con gà ra cổng, nó đă chạy tọt vào nhà con mụ hàng gà. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:50 AM Post #10 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Ánh nắng êm dịu qua cửa sổ chiếu vào khuôn gương treo trên tường vôi, trong thư pḥng đầy vẻ tưng bừng ấm áp. Xuân Hương đứng trước giá gương, ngắm nghía bóng ḿnh và những bông hoa đào trên lọ chiếu xuống, những cánh hoa đào, hết thảy tươi cười hớn hở, như sung sướng v́ được đứng bên cạnh một trang giai nhân. Bỗng nàng nghĩ đến hai câu cổ thi: "tích niên kim nhật thử môn trung, nhân diện đào hoa tương ánh hồng", lẩm bẩm nàng khen là thơ rất hay, rồi nàng tự nghĩ: "Tuy vậy. . . vẫn không ra dáng đàn ông, nếu gặp một người tinh mắt, họ cũng có thể nhận biết rằng ḿnh cải trang, v́ đôi má hồng và nước da trắng nơn vẫn cố hiện cái bản tướng của nó. Th́nh ĺnh nh́n lên bộ ngực, đôi vú dậy th́ vẫn cứ phồng phồng ra ngoài, tuy nàng đă mặc một lần áo kép. Nàng bụng bảo dạ: "lại c̣n cái của "mất dậy" này nữa, bây giờ làm thế nào mà dẹp được nó?" Tức th́ nàng mở rương lấy thêm một tấm áo bông mặc phủ ra ngoài. Con Nụ vừa ở dưới chạy lên, thấy nàng, nó phát kinh ngạc mà hỏi: - Thưa ông, ông ở đâu lại chơi có việc ǵ xin ông cho biết? Nàng cố nín cười không được, tủm tỉm nàng nắm bàn tay chặn vào lỗ mũi để nói cho ra giọng người lạ: - Tôi ở Thanh Hóa. . . Mới nói được bấy nhiêu tiếng con Nụ đă nhận ra tiếng cô chủ, nó liền cười rũ cười rượi: - Trời ơi ! Cô giả dạng khéo quá, con vẫn tưởng là ông khách nào. Những quần áo ấy cô lấy ở đâu ra thế? Xuân Hương chưa trả lời, nó lại nói tiếp: - À phải rồi! vẫn bộ cánh cô may độ trước để đánh lận xông vào trường thi, con tưởng cô đă đem cho ông Nguyễn Cao Đệ mất rồi, vẫn c̣n đấy ư? Nh́n vào giá gương lần nữa, nàng lại mỉm cười và hỏi: - Mày trông có giống đàn ông hay không? - Giống lắm. Chẳng giống sao con lại lầm. Nếu cứ ăn mặc như thế mà đi ra ngoài, có lẽ khắp cả Hà Nội không ai nhận ra cô nữa. Vui vẻ nàng dặn con Nụ ở nhà coi nhà, rồi nàng đi luôn xuống phường Đồng Xuân. Lớp học buổi sáng đă tan, học tṛ đâu về đấy hết, trong trường cụ Nghè Hoàng lúc ấy đă thấy vắng teo. Nàng đứng ngấp nghé ngoài cổng, chờ măi mới thấy một cậu bé con tung tăng chơi ở giữa sân. Nàng gọi cậu đó ra cổng mà bảo: - Nhờ cậu vào tŕnh cụ Nghè: có người ở Thanh Hóa ra, muốn vào hầu cụ. Cậu vui vẻ chạy vào, chừng nửa giờ sau mới thấy trở ra trả lời: - Cụ bảo tên thầy là ǵ, thầy hăy nói cho cụ biết. Nàng liền nói với cậu đó cho mượn cái bút có tẩm mực sẵn. Rồi nàng móc túi lấy mảnh hoa tiên trong túi, viết tấm danh thiếp như sau: "Văn sinh, Thanh Hóa ngoại chấn sinh đồ Phạm Khắc Kính bái yết", rồi trao tấm danh thiếp cho cậu học tṛ, nàng dặn: - Cậu cầm cái này vào tŕnh cụ Nghè dùm tôi. Măi nửa giờ sau, cậu học tṛ ấy tất tả chạy ra và nói: - Cụ bảo mời thầy vào chơi trong nhà! Sửa lại nếp khăn và vuốt các tà áo cho thật ngay ngắn, nàng theo cậu bé cung kính vào trong nhà học. Cụ Nghè ngất nghểu bắt chân chữ "ngũ" ngồi trên ghế ngựa quang dầu, chừng như mới ăn cơm xong, trong miệng hăy c̣n cái tăm đương ngậm. Thấy nàng cụ vẫn ngồi ỉm không hề nhúc nhích. Lễ phép, nàng bước vào trong bực cửa và chắp hai tay lại chào. Khi nàng vừa ngẩng đầu lên, th́ vừa thấy cụ rút tăm đặt xuống án thư, ch́a bàn tay phải chỉ vào dăy ghế bên cạnh và nói: - Thầy ngồi! "Lăo này kiêu ngạo đến thế này, thật là quá quắt, thế mà thiên hạ cứ đổ xô vào học, không biết họ định học lấy cái ǵ". Nghĩ vậy, nàng lại cố nén cơn tức, xin lỗi cụ rồi khúm núm ngồi vào chỗ ghế mà cụ đă chỉ. Lâu lâu, thấy cụ lên giọng đạo mạo: - Mày đâu, lấy nước thầy đồ xơi nước? Một tiếng dạ rất nhịp nhàng từ phía sau nhà kéo dài đến tận cửa hậu, một cậu học tṛ vào khoảng mười hai, mười ba vội vàng đến trước án thư nghiêng ấm b́nh tích rót độ lưng chén rón rén đệ vào chỗ nàng ngồi: - Mời ông xơi nước ạ? Rồi cậu ấy lại rón rén đi ra đằng sau. Mùi hoa sói lẫn mùi chè nụ theo khói đưa ra ngào ngạt. Nàng lại lễ phép đứng dậy: - Cụ ban nước, chúng con xin bái lĩnh! Cặp môi nhăn nheo sẽ mấp máy trong bộ râu bạc phất phơ và đưa ra hai tiếng vắn cộc: - Không dám! Rồi cụ lại bắt chân chữ ngũ ngồi im. Nàng đă uống cạn chén nước, cụ vẫn không nói không rằng. Một lúc nữa, cḥm râu bạc lại thấy rung rung. Cụ ngoảnh nh́n nàng và hỏi: - Thầy ra thăm tôi có việc ǵ! Nàng vội đứng dậy găi tai và đáp: - Dạ, bẩm cụ chúng tôi nghe tiếng... Vừa nói đến đấy, ngoài cửa nghe tiếng người "lạy thầy" rất ṛn ră làm cho nàng phải ngừng lại và đưa mắt trông ra. Đàm Thận Trung nhanh nhẩu bước vào với cái dáng bộ kính cẩn. Theo lệ mọi ngày, chàng ấy ngồi lại dăy ghế bên kia đối mặt với Xuân Hương. Im lặng một lúc nữa, cụ lại quay mặt sang phía Xuân Hương và nhắc lại câu nói vừa rồi: - Thầy vào thăm tôi có việc ǵ không? Nàng cũng lễ phép nói nốt một câu đương nói dở: - Dạ bẩm cụ, chúng con được nghe tiếng cụ là bậc đạo cao vọng trọng, cho nên chẳng quản đường xá xa xôi, nhất bái, để xỉn cụ chỉ giáo cho một vài điều về cách lập thân xử thế, chúng con lấy làm đội ơn. Se sẽ giơ tay vuốt mấy sợi râu trắng xóa, cụ rung đùi ra cách tự đắc: - Làm sao thầy biết tiếng ta? Nàng đáp: - Dạ, bẩm cụ, danh vọng của cụ ngày nay, thật chẳng khác ǵ núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu, trong cánh sĩ lâm ái cũng nói đến, chúng con nay mới được biết cũng là muộn lắm. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:51 AM Post #11 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Bữa đó vào khoảng trung tuần tháng chạp, phố phường Hà Nội đă lác đác trang điểm bằng những hoa đào thắm và những bông cúc vàng, thiên hạ đương tấp nập sắm sửa đồ tết. Nàng đem con Nụ xuống chợ Đồng Xuân mua mấy cành đào và vài sọt cúc. Mua bán xong rồi, nàng giao mấy sọt cúc cho con Nụ quẩy gánh về trước, ḿnh th́ cầm mấy cành đào lững thững đi sau. Qua phố Hàng Đường, nàng đương mải nhắm vào một cửa hàng, bên cạnh bỗng có người hỏi: - Hồ Xuân Hương hôm nay đi bán đào đấy ư? Bao nhiêu tiền một cành đào ấy? Giật ḿnh, nàng quay lại trông, người ấy vào trạc hai bốn hoặc hai nhăm tuổi, dung mạo rất tuấn tú nàng tưởng như ḿnh đă gặp một lần, mà không nhớ là người nào. Mỉm cười, nàng đáp: - Dám hỏi mua đào của Hồ Xuân Hương, không sợ bị cám dỗ à? Người kia cũng tủm tỉm và nói: - Đây là Bắc phương Chấn vũ đại đế giáng sinh, có sợ ǵ ái cảm dỗ. Tha hồ, thừ cảm dỗ đi xem nào! Nghe nói nàng liền nghĩ thầm: "A , ra anh chàng dám dùng sự tích trong sách Lĩnh Nam trích quái đối đáp với ta, có lẽ hắn là người khá chăng", nàng bèn nói khích thêm một câu nữa: - Thôi, muốn sống về ở với vợ với con th́ lánh xa ra, đây cũng sỉnh phúc cho, đừng nói ỡm ờ mà chết. Người kia vẫn cười: - Cái giống hồ tinh chỉ cốt hút lấy tinh huyết người ta, để luyện cho ḿnh thành người chứ ǵ. Được! Đây chưa có vợ có con, tinh huyết c̣n nhiều, tha hồ cho hút, chỉ sợ không đủ sức, chẳng việc ǵ mà đây phải lánh! Nàng bụng bảo dạ: "Hắn c̣n dám nói bằng giọng lả lơi thế này, hoặc giả cũng là một kẻ khác người, không đến nỗi mù đui như nhiều kẻ khác, ta thử mời hắn đến nhà nói chuyện vài câu cho vui". Rồi nàng trả lời: - Tôi cũng khen cho ông là người can đảm, c̣n dám nói năng đối đáp với tôi. Nhưng ở giữa đường chúng ta không tiện nói nhiều, ông có thong thả, mời ông ghé qua nhà tôi xơi nước! - Tôi rất thong thả, và cũng ước ao được biết nhà cô, nhưng cô hăy cứ về trước, lát nữa, tôi sẽ lại sau, kẻo sợ chúng ta đi đôi với nhau, thiên hạ lại đặt ra điều này tiếng khác. Dứt lời, người ấy liền lùi trở lại và đi ra nẻo Hàng Buồm. Nàng vác cành đào nghênh ngang theo đường cửa Bắc lên phường Khán Xuân. Vừa đi, nàng vừa lẩm bẩm: "anh chàng này cũng liều chết nói láo mày câu đó thôi, chưa chắc đă dám bước vào nhà ta! Thế mới biết ở đời t́m một người ra người, thật khó". Tới nhà, nàng sai con Nụ đem cúc trồng vào trong chậu, tự ḿnh lấy nước cắm những cành đào vào lọ. Bài trí vừa xong, con nụ vừa xách ấm đồng xuống bếp đun nước, ngoài cửa đă thấy có tiếng gơ cửa cành cạch. Đẩy cánh cửa sổ, nàng đứng trên gác ngó ra xem ai, Chinh là anh chàng lúc năy. Mừng quá, nàng vội chạy xuống mở cửa và mời lên chơi thư pḥng. Tia sáng bỗng nảy trong trí, khiến nàng bỗng nhớ ra người ấy là người nào. Lên khỏi thang gác nàng mời người ấy vào ghế và hỏi một cách nghiêm trang: - Thưa ông, có phải ông là Đàm Thận Trung không nhỉ? Người ấy mỉm cười trả lời: - Phải? Chính tôi là Đàm Thận Trung? Sao cô lại biết tên tôi? - Tôi đă gặp ông một lần ở trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Hôm ấy ông đi với cụ Chiêu Bảy và bốn người nữa. Về sau cụ Chiêu Bảy có nói tên nói họ các ông cho tôi nghe. - Cô đă biết tôi, làm sao lúc năy lại c̣n nói chưa? Xuân Hương vừa cười vừa nói: - Bấy giờ tôi c̣n chưa nghĩ ra ai. Vả lại, dù biết là ông đi nữa, tôi vẫn có quyền nói chưa chứ sao. Khi mà một người con trai vô cớ châm chọc một người con gái, th́ người con gái vẫn được nói chưa, nếu như người ta không thích những câu châm chọc của người con trai. Ông cũng cho phép thế chứ! - Cồ nhiên như thế. . . Nhưng người con trai cũng được đáp lại bằng lời sâu sắc. . . Hai người cùng phá ra cười. Con Nụ đun sôi ấm nước. Nàng tự đứng dậy pha nước mời Thận Trung uống rồi hỏi: - Ở ngoài, những ông học tṛ vẫn đồn tôi là hồ tinh, có phải không ông? Thận Trung cười khanh khách: - Chuyện ấy cũng có, thiên hạ vẫn thường nói phao như thế. - Ông th́ thế nào? - Tôi chưa hiểu ư câu nói của cô? - Ông có tin tôi là hồ tinh hay không? - Tin hay không, cái đó không cần nói. Tôi chỉ nói cho cô biết rằng, dù cô có là hồ tinh đi nữa, tôi cũng không sợ. Xuân Hương vẫn cười tủm tỉm: - Gớm nhỉ! Ông to gan nhỉ! Dám không sợ tôi, ông cũng to gan thật đấy. Tiếc thay ông là học tṛ của cụ Nghè Hoàng. - Thế ra cô vẫn căm cụ Nghè Hoàng phải không? - Nhưng cớ sao cô lại nói đến câu ấy, cô bảo tôi làm học tṛ cụ ấy không đáng hay sao! - Đáng lắm! Tôi đâu dám bảo cụ Nghè Hoàng không đáng làm thầy học ông; tôi chỉ tiếc rằng. . . Nói đến đây, nàng bỗng ngừng lại, h́nh như không muốn nói nốt, Thận Trung vội gặng: - Tiếc rằng thế nào, cô cứ nói đi, nhưng cấm không được nói chưa? Nàng cũng nể mặt Thận Trung, liền quay đầu lưỡi: - Tôi tiếc rằng ông là học tṛ cụ Nghè Hoàng mà đi vào chơi nhà tôi, lỡ đến tai cụ, có khi cụ lại bắt chước ông Khổng, sai học tṛ thúc trống mà đuổi ông ra khỏi cửa. Thận Trung biết nàng nói đùa, chàng chỉ đáp lại bằng một nụ cười, rồi chàng vờ nói chuyện khác: - Tôi vẫn thấy nói cô giỏi thơ nôm, th́nh thoảng anh em đọc lại cho nghe một bài của cô, tôi thấy hay lắm. Trong bọn nhà nho chúng tôi, ít người làm được thơ hay như thế. Vậy chắc cô có th́ tập, xin cho tôi được coi qua. - Thơ tôi mà ông dám cho là hay ư, ông? Thế sao các cụ tiền bối, ai cũng cho là đĩ thơa? Rồi nàng mở tủ lấy một cuốn sách giấy bản trao cho Thận Trung: - Ông muốn coi, tôi có tiếc ǵ. Làm thơ chỉ cốt người đọc cho là may. Nếu làm rồi lại phải nhét vào trong tủ, không thể nói với ai được, th́ c̣n thú hứng nỗi ǵ. Thận Trung đón lấy cuốn sách và hỏi: - Từ ngày cô chép ra tập thơ này, bạn nho chúng tôi đă ai coi chưa? - Trong cái đời này, người ta c̣n mải miết về đường công danh, ai dám coi đến tập thơ của tôi, ông bảo? - Tôi là người đầu tiên cầm đến thi tập của cô? - Có lẽ thế ! - Nếu thế th́ tôi là tri kỷ của cô mất rồi! Xuân Hương nghiêm sắc mặt: - Ông phải nói đứng đắn, v́ lần này là lần thứ nhất chúng ta nói chuyện với nhau. Thận Trung hơi thẹn, chàng vờ nh́n vào cuốn sách. Bắt đầu coi nhằm bài "Chơi đài Khán Xuân", chàng ngâm kêu như tiếng chuông: Êm ái chiều xuân tới khán đài ! Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai. Ngâm lại lượt nữa, chàng tấm tắc khen lấy khen - Hay lắm, rơ như vẽ ra ngôi đài chót vót trên cao. Rồi chàng đọc tiếp: Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng Một vũng tang thương nước lộn trời Chàng vội gật gù khen ngợi: - Đường lắm! "Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng, một vũng tang thương nước lộn trời, thật là giọng Thịnh Đường, thơ thế này th́ có kém ǵ Đỗ Phủ, Lư Bạch. Và chàng lại ngâm: Bái ngh́n trùng khôn tát cạn Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi. Chàng tán: - Hai câu này cũng ra cái đài ở nơi chùa chiền và cất tại chỗ gần nước. Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây chín rơ mười. Đọc hết hai câu cuối cùng, chàng bỗng ngẩn người ra mà hỏi: - Quái! Bài này tôi xem không giống giọng những bài của họ đọc cho tôi nghe. Cứ như những câu này, tôi chẳng thấy ǵ là đĩ lồng, sao người ta lại cứ đổ tiếng cho cô! Xuân Hương đáp: - Đây là bài tôi làm từ mấy năm trước, lúc ấy tuổi thơ ngây, cho nên giọng thơ cũng c̣n thơ ngây. Mấy năm sau này tuổi lớn lên, tính càng sinh hư, giọng thơ cũng đổi khác, người ta bảo là đĩ thơa cũng không oan. Ông cứ đọc hết th́ biết. Thận Trung lần lượt đọc những bài dưới. Khi xem đến bài "Qua núi Ba đèo"(Tức đèo Ba Dội, hay c̣n gọi là đèo Tam Điệp), chàng lại ngâm to: - Một đèo, một đèo, lại một đèo ! Chàng bỗng vỗ đùi và nói: - Tài ! Thơ tài! "Một đèo, một đèo lại một đèo" thật là ngọn núi Ba đèo. Mượn ba chữ một để thích một chữ ba, giỏi thật. Nếu không phải là bậc thiên tài, khó mà nghĩ được câu ấy. Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm hum nóc Chàng ngẩng lên nh́n Xuân Hương: - Sao cô khinh cái cửa son quá thế! Cửa mà đến "đỏ loét" th́ bẩn lắm nhỉ, có lẽ nó là cái cửa ǵ đó, không phải cửa son. Xuân Hương chỉ cười không nói. Thận Trung lại nghêu ngao: Cồn đá xanh ŕ lún phún rêu Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đ́a lá liễu giọt sương gieo. - Được! Hai câu này được lắm, cũng ra cảnh núi Ba đèo. Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo. Chàng đặt cuốn thơ xuống và nói: - Tôi nói xin cô tha lỗi. - Ông cứ nói. - Kể ra hai câu sau này cũng có sự thật? - Th́ tôi có chối bao giờ. Tôi vẫn nhận rằng mấy năm sau này, thơ tôi đổi giọng, người ta chê là đĩ thơa cũng không oan. - Đĩ th́ có đĩ. Nhưng cũng hay lắm. Chàng lại ngâm lại lần nữa: Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muôn trèo. Chàng lại mỉm cười và hỏi Xuân Hương: - Như tôi có phải là hiền nhân, hay quân tử không hử cô? - Tôi không biết. Hôm nay tôi mới biết. - Cái đó quyền ở cô! Cô cho tôi là hiền nhân quân từ th́ tôi sẽ là hiền nhân quân từ. Xuân Hương lại nghiêm sắc mặt: - Ông xem thơ th́ cứ việc xem thơ, không được nói ra chuyện khác. Thận Trung im lặng hồi lâu, chàng cầm ấm nước rót lấy một chén nhấp giọng, rồi lại vớ lấy cuốn thơ giở vào một bài ở giữa: "Cái quạt?" À thừ xem thơ cái quạt ra sao. Rồi chàng đọc luôn: Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa Chàng cau mày, nhưng không nói ǵ và cứ tiếp tục đọc nữa: Duyên em dính dáng tự bao giờ Vành ra ba góc da c̣n thiếu Khép lại, đôi bên thịt vẫn thừa. Chàng lắc đầu lè lưỡi mà rằng: - Thơ vịnh cái quạt mà đến thế này thật là kỳ quái, không trách người ta khiếp cũng phải. Chàng lại đọc: - Mát mặt anh hùng cơn nắng gió Che đầu quân tử lúc sa mưa! Chàng bỗng quăng tọt cuốn thơ xuống ghế và cười khanh khách: - Sao cô chua thế hử cô. Cô có thù ǵ bọn anh hùng quân tử mà nỡ nói đê nói nhục họ thế ! "Vành ra ba góc da c̣n thiếu. Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa", thế mà tiếp đến "Mát mặt anh hùng khi nắng gió, Che đầu quân tử lúc sa mưa" th́ đầu quân từ và mặt anh hùng c̣n ra ǵ nữa. Cô thật chua ngoa vô cùng! Xuân Hương cũng cười: - Đó là tôi tả chân cái quạt, có ư ǵ đâu? Ông thử tưởng tượng h́nh dáng cái quạt mà xem, có phải khi x̣e ra th́ nó thành h́nh ba góc mà có một góc thiếu giấy, khi cụp lại th́ thịt nó thừa ra đôi bên hay không. Người ta cầm quạt, ai cũng quạt vào mặt trước, nếu lúc đi mưa mà có cái quạt ở tay ai không dùng để che đầu. - Tôi dùng những chữ "che đầu, "mát mặt" để tả cái quạt tưởng cũng đúng lắm. C̣n như những chữ anh hùng quân tử chẳng qua là đặt đối nhau, cho đẹp câu, không có ư tứ ǵ hết. - Cô nói vậy th́ tôi không chịu. Nếu bảo đặt đối nhau cho đẹp câu sao cô không đặt làm "mát mặt giai nhân" "che đầu thục nữ", giai nhân thục nữ cũng thường dùng quạt như bọn anh hùng quân tử, chứ có khác ǵ. Không nói người nọ mà nói người kia, chỗ đó, chứng bụng cô lúc nào cũng câm hờn bọn đàn ông con trai chúng tôi cho nên mới có giọng chua ngoa như thế. - Ông nói thế th́ tôi c̣n căi sao được. Nhưng ông nên xét cho rằng: Đó là tôi cũng vô t́nh đặt mấy câu ấy nối liền với nhau, không phải là tôi cố ư, xin ông cũng đừng động ḷng. - Tôi có động ḷng ǵ đâu, thấy vậy tôi cũng nói vậy để cô khỏi cười tôi là ngu dốt mà thôi. Một lúc lâu, Thận Trung lại tiếp: - Thực ra anh hùng quân tử ngày nay, nhất là những người đọc sách, biết chữ, ḿnh tự cho ḿnh là bậc đạo đức cao thượng, càng đáng ghét nữa. - Sao ông lại ghét người đạo đức cao thượng? - Cô lầm! Không phải tôi ghét người đạo đức cao thượng. Nếu họ mà thật đạo đức th́ cái thân họ tức là gương sáng của bọn thiếu niên, đáng quí lắm chứ, ai mà dám ghét? Tôi ghét là ghét bọn đạo đức giả dối ấy thôi. Mà ở đời này, cô bảo lấy ai là đạo đức thực? - Ông đă nói tôi cũng muốn nói một câu, nhưng trước khi nói tôi xin ông hăy tha thứ cho tôi, dù câu nói ấy có hơi vô lễ! - Chắc cô lại muốn nói cụ Nghè Hoàng phải không? Được, cô cứ nói, cụ ấy tuy là thầy học tôi thật, nhưng cũng rất nhiều cái tôi rất không phục, cô thử nói xem có hợp ư tôi không? Xuân Hương chưa kịp, Thận Trung lại giục: - Cô cứ nói, nhưng cô nên nói cho đúng, không được đặt điều cho cụ. - Tôi tưởng cụ là hạng đạo đức giả dối, không biết có đúng hay không! - Cô nói chính đúng ư tôi. Khi trước nghe tiếng đồn cụ là bậc đạo đức cao thượng, nên tôi mới xin vào học. Từ ngày vào học đến nay, tôi mới biết cụ chỉ đạo đức giả, ḷng tôi rất là hối hận. - Bây giờ tôi muốn làm vỡ cái đạo đức giả của cụ, ông nghĩ có nên không? - Nên lắm. Nhưng cụ giả dối rất khéo, khó mà làm vỡ ra được! - Được! Tôi đă có phép. Nếu cụ không phải gỗ đá, th́ thế nào cũng mắc với tôi? Thận Trung có ư nghi hoặc: - Nếu cô cùng vào với tôi, e rằng cụ không thèm tiếp, mà rồi cụ c̣n mắng tôi tàn tệ. Xuân Hương cười ngặt cười nghẽo: - Ông thật thà quá! Tôi há chẳng biết bây giờ cụ đang coi tôi như vật dơ bẩn, không muốn để cho lại gần? Nhưng, nếu muốn trêu cụ chơi cho vui, th́ tôi phải... không là tôi nữa mới được! - Cụ có biết mặt cô không? - Không! Tôi với cụ kiếp trước không thù, kiếp này không thù, hai bên chẳng giáp mặt nhau lần nào, thế mà không hiểu v́ sao cụ cứ ghét tôi như đổ thuốc độc ? Thận Trung cũng cười: - Một đằng thích giọng đạo đức, một đằng chỉ nói phóng phiếm, hai bên khác nhau như nước với lửa, cô c̣n ghét cụ, trách ǵ cụ chẳng ghét cô! Có điều cái thứ đạo đức của cụ, chỉ là đạo đức cửa miệng, chính tôi cũng không chịu nổi, nên muốn để cô cḥng cụ xem sao. Nếu cụ chưa biết mặt cô, th́ cô có thể đánh lừa cụ được. Nhưng tôi dặn trước, cô nên cḥng cụ vừa vừa chứ thôi, không nên làm quá! Chàng lại quay vào tập thơ và đọc nốt hai câu cuối cùng: Nâng niu ướm hỏi người trên trướng, Ph́ phạch trong ḷng đă sướng chưa ? Lại một nụ cười nở trên cặp môi chúm chím, chàng liếc mắt nh́n nàng: - Người trên trướng là ai? Có phải ông lăo rậm râu sâu mắt hay không? Xuân Hương sầm mặt: - Ông đừng nhắc đến chuyện ấy, tôi muốn vùi dập nó xuống đất đen, không khi nào bới nó lên nữa. Lăo Quyền Chưởng Vệ với tôi, cũng như tôi với cụ Nghè Hoàng, khác một điều là, cụ Nghè Hoàng không thấy mặt tôi, lăo đó th́ một vài ngày lại được ngó tôi một lần. Ấy là lúc tôi lấy lăo ấy, tính duyên chỉ có thế thôi! Chàng vờ nói đi chuyện khác: - Vậy ngày mai khoảng nào th́ cô vào thăm cụ Nghè? Chừng độ gần trưa. - Nhưng, tôi không thể cùng đi với cô. Xuân Hương ngẫm nghĩ giây lát: - Ông sợ mang tiếng học tṛ phản thầy phải không! Thế cũng phải. Nhưng tôi muốn rằng khi tôi vào rồi th́ ông cũng vào, hoặc ông vào trước rồi tôi vào sau. Miễn là chúng ta không đi cùng với nhau, th́ dù xảy ra sự ǵ, cụ cũng không trách đến ông. - Được! Tôi cũng muốn chứng kiến cuộc nghịch tinh ấy của cô |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:53 AM Post #12 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Trông thấy một ông tân khoa h́nh giống như quỷ cái, ai không thương hại và buồn cười. Xuân Hương lẩm bẩm nghĩ thầm: "Khốn nạn, bao nhiêu năm học hành khổ sở, bao nhiêu năm chịu tủi chịu nhục với nhà vợ chỉ cốt kiếm lấy một miếng khoa danh. Bây giờ thi đậu đáng lẽ đến lúc sung sướng, th́ lại sinh ra điên rồi! Ông trời thật cơ cầu lắm vậy". Bỗng nàng sực nhớ h́nh như nàng đă đọc thấy ở cuốn sách nào, cũng có một người sướng quá hóa điên, người ta làm cho người ấy mất sướng, chứng điên cũng khỏi, lập tức nàng xuống thang gác và sang nhà hàng thịt hỏi thăm, luôn thể để bảo cái phương thuốc ấy. Hàng phố đứng xem chật cả ngoài cửa. Nguyễn Cao Đệ, do ba bốn người đàn ông lực lưỡng nắm tay ôm lưng, đứng ở trước thềm vẫn chồm chồm nhảy lên, ngồi xuống, y như con mèo bị trói lồng lộn muốn thoát thân, miệng th́ lảm nhảm chỉ nói một câu "Ư a ! Ta đỗ rồi". Giữa sân bày chiếc hương án, trên để một bát nước, một cơi trầu, ba chén rượu và năm nén hương đen đốt lửa, khói nhựa trám kéo lên nghi ngút. Vợ chồng hàng thịt vừa lạy vừa khấn: - Chúng tôi cắn rơm cắn cỏ lạy trời lạy phật, lạy qủy thần hai vai, xin ngài thương t́nh nhà tôi nuôi nấng khó nhọc trong bấy nhiêu năm để cho rể ăn học, mà các ngài tha cho rể tôi nếu có chếch lệch về đâu, sau này chúng tôi sẽ xin tiện tạ. Họ c̣n khấn nhiều câu lạ lùng hơn nữa, nhưng nàng cũng không để ư. Chờ cho hai người lạy xong đứng dậy, nàng ôn tồn chào và hỏi: - Thế nào, ông bà đă t́m thầy chạy thuốc cho ông Cống chưa? Đó là ông Cống mắc bệnh, không phải ma trêu quỷ hờn ǵ đâu, chạy thuốc cho ông ấy uống sẽ khỏi, không phải cúng vái ǵ cả. Vợ chồng hàng thịt mếu xệch đôi miệng như đôi khau giai, ra ư nửa tin nửa ngờ, người chồng vừa khóc vừa nói: - Cô đă sang chơi đấy ư! Mời cô vào chơi trong nhà? Khốn khổ, công tŕnh nhà tôi nuôi rể bao nhiêu năm trời, bây giờ đến lúc thi đậu, ông ấy hóa ra thế này, thật là công lao chúng tôi đổ cả xuống sông xuống b́ển. Người vợ nói xen: - Hôm qua ông ấy ra nghe xướng danh, người vẫn lành mạnh như thường chớ có bệnh tật ǵ đâu. Chúng tôi không có ở đấy, nhưng thấy người ta đồn rằng... Khi nghe loa gọi tên ḿnh, ông ấy tức th́ hóa điên. Nếu không có người trêu quở, tật bệnh đâu có chóng được như thế. Xuân Hương chưa kịp trả lời, mụ ấy lại nói thêm: - Có tội th́ vái tứ phương, chúng tôi người trần mắt thịt, biết đâu được việc quỷ thần mà dám nói là không hay có. Cầu cúng cứ cầu cúng, thuốc thang cứ thuốc thang... Người vợ Cao Đệ xịt xoạt ở trong nhà ra, nói ngắt lời mẹ: - Thưa cô, tôi cũng nghe thấy vài người nói rằng ông Cống nhà tôi sướng quá hóa điên đấy thôi, uống thuốc phải mặt th́ khỏi. Chúng tôi quê kệch, chẳng biết ai là danh sư, cô đă ở đây lâu ngày, cô biết người nào chữa được bệnh ấy, xin cô bảo cho. Xuân Hương vui vẻ đáp: - Danh sư bây giờ ít lắm, tôi cũng không thể biết người nào có thể chữa khỏi chứng điên. Nhưng tôi có một mẹo này, cũng là mẹo ở trong sách dạy lại, không phải thuốc thang ǵ cả, bác hăy thử làm xem sao, may ra th́ khỏi. Nếu không khỏi cũng không hại ǵ! Cả nhà đều xúm lại hỏi: - Mẹo như thế nào, cô thừ nói cho, chúng tôi sẽ làm ngay. Xuân Hương hỏi lại bằng giọng nghiêm trang: - Xưa nay ông Cống có sợ ai không? Người vợ Cao Đệ ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: - Nhà tôi vẫn là một người bướng bỉnh xưa nay chẳng sợ ai hết, bao nhiêu ông cả bà lớn, người khác trông thấy đều phải xanh mặt, nhà tôi cũng coi như thường. Riêng chỉ sợ có thầy tôi mà thôi, mỗi khi thầy tôi say rượu, cầm con dao bầu nghểnh ngảng, tức th́ nhà tôi đă tái mặt lại, có lúc run như cầy sấy, không biết là tại sao thế! Xuân Hương tiếp lời: - Thế th́ được. Bây giờ ông đến tát vào mặt ông Cống một cái và thét to rằng: "Đừng nói láo? Mày đỗ bao giờ?". Như vậy, tự nhiên ông Cống sẽ khỏi. Người hàng thịt xua lấy xua để: - Cái ǵ chứ cái việc ấy th́ bố tôi sống lại bảo tôi, tôi cũng không dám làm theo. Bởi v́, những người thi đỗ đều có những v́ tinh tú to lớn trên trời giáng vào trong ḿnh. Phạm đến thân thể người ta, tức là phạm đến những v́ tinh tú to lớn kia vậy, khó ḷng sống mà ở với vợ với con! Cô c̣n ít tuổi không biết, ngày xưa cũng có một người tức nhau với một ông Cống, lúc ra việc làng, chỉ đấm ông ta một cái, thế mà đêm ấy anh ta về nhà tự nhiên phải gió lăn đùng ra chết. Đó cô bảo có linh hay không. Thôi, thà để cho ông Cống điên, chứ cái mẹo của cô tôi không dám bắt chước. Mụ hàng thịt liền nối lời chồng: - Phải đấy? Thầy cháu nói phải? Bây giờ tát cho ông Cống một cái, hoặc giả sau này ông ấy khỏi điên có kẻ nịnh hót, nói lại cho ông ấy biết, chắc là ông ấy sẽ đem ḷng thù giận nhà tôi, lúc ấy, nhà tôi biết ăn ở thế nào cho lại? Thôi trời bắt sao chịu vậy, ông ấy có điên suốt đời chăng nữa, chúng tôi cũng được là bố vợ mẹ vợ ông Cống từ bữa nay rồi! Người vợ Cao Đệ máy môi sắp nói, th́ ở trong thềm, Cao Đệ đă giật được tay những người đàn ông đứng giữ ông ta chạy sổ xuống sân và reo rầm rĩ: - Ư a! Ta đỗ rồi ! Ư a ! Ta đỗ rồi! Vừa reo, ông ta vừa tế ra cổng. Xuân Hương vội vàng lánh vào cạnh tường, cả bọn đàn ông tất cả chạy theo giữ ông ta lại. Nhưng v́ trong lúc cơn điên nổi lên, ông Cống cũng hóa ra khỏe, mấy người đàn ông đều bị du đẩy, ngă dúi, ngă dụi xuống đất. Ai nấy lại cùng lóp ngót trở dậy và cùng lật đật đuổi theo. Người vợ Cao Đệ dậm chân tru tréo: - Trời đất ơi, sao mà nhà tôi bạc phúc thế này. Người ta đỗ th́ không, chồng tôi đỗ th́ hóa rồ hóa dại! Quay lại, chị ta lại hỏi Xuân Hương: - Thưa cô, tôi tát vào mặt ông cống nhà tôi có được hay không hở cô? Xuân Hương ra vẻ cảm động, nàng buồn rầu đáp: - Nếu lúc ngày thường bác trai vẫn sợ bác, th́ bác tát vào mặt bác ấy cũng được! - Thưa cô, không! Những người học hành biết chữ ít khi có kẻ sợ vợ, huống ch́ nhà tôi lại là một người ương ngạnh. . . chỉ có nể tôi th́ có, chứ đến sợ tôi th́ không. - Thế th́ không được, dù bác có tát vào mặt bác trai cũng là vô ích. Phải để ông bố làm cái việc ấy! Người hàng thịt lại chối bai bải: - Tôi chả dám, cô xui dại? Tát vào giữa mặt một ông khoa mục để rồi những v́ tinh tú trên trời quật chết tôi à. Xuân Hương mỉm cười không trả lời. Mụ hàng thịt hỏi chồng một cách sửng sốt: - Hay là nhà ta từ xưa đến nay giết nhiều lợn quá hại đến âm công trời phật bắt tội phải thế này chăng? Câu nói của mụ rất trúng ư nghĩ của lăo hàng thịt, hắn cũng đáp lại bằng giọng sửng sốt: - Có lẽ thế, sát sinh nhiều quá, tài nào không tổn âm đức! Bây giờ làm thế nào? - Để tôi đi xem bói quẻ. May mà nhà c̣n có phúc, "bói ra khoa thấy", th́ phải lập đàn giải oan cho những con lợn chết oan, chứ c̣n biết làm thế nào! Người hàng thịt sốt sắng tán thành ư kiến của vợ, giục vợ lấy tiền đi luôn lên chợ Đồng Xuân, v́ vẫn thấy đồn ở đấy có ông thầy bói hay lắm. Xuân Hương biết rằng với kẻ hạ ngu như vợ chồng nhà này, không thể lấy lời lẽ ǵ mà giải cái ḷng mê tín của họ. Nàng liền chào cả ba người rồi về. Ngoài cửa, những người hàng phố không biết Cao Đệ đă đi khỏi nhà, vẫn c̣n kéo đến lũ lượt, chờ xem ông Cống hóa điên. Suốt trong ngày ấy, Xuân Hương lúc nào cũng áy náy thương cho Cao Đệ, nhưng mà bảo lăo hàng thịt đă không đắt lời, nàng cũng không c̣n cách nào mà cứu được người vô phúc. Thỉnh thoảng nàng lại cứ sai con Nụ ra phố hoặc sang bên nhà hàng thịt ḍ xem bệnh t́nh Cao Đệ ra sao. Mấy lần con Nụ trở về đều nói ông ta chạy măi xuống vùng Hoàng Mai, bao nhiêu người nhà đi theo bắt lại không được. Gần tối lại thấy nói bây giờ Cao Đệ càng điên hơn lúc ban trưa, ông ta nhảy cả xuống chuôm, xuống ao, không biết ǵ là ǵ cả. Sáng hôm sau, Xuân Hương vừa mới ngủ dậy, nàng đương chờ đợi ấm nước sôi của con Nụ đun, th́ ở ngoài cửa có tiếng mở cửa, rồi ở thang gác có tiếng chân bước th́nh thịch. Nàng vội vàng nh́n xuống, người vợ Cao Đệ vừa nhô đầu lên với bộ mặt nhăn nhó sầu thảm. Vồn vă, nàng mời bà Cống ngồi trong ghế, và đon đả hỏi thăm ông Cống đêm qua ra sao. Nước mắt chảy xuống ṛng ṛng, người vợ Cao Đệ vừa khóc xịt xoạt vừa nói: - Khổ quá, cả đêm hôm qua, nhà tôi cứ cởi trần trùng trục đùng đùng chạy khắp cả mấy cánh đồng ở vùng Bạch Mai. Mấy làng ở đấy đă phải nhốn nháo, tuần phu đổ ra rất đông, họ toan trói lại, chẳng ngờ có một anh tuần lóng ngóng thế nào để cho nhà tôi cướp được ngọn mác. Rồi nhà tôi cứ đi nghênh ngang cùng đường vừa múa ngọn mác vừa reo "ư a, ta đỗ rồi", hễ ai đến gần, tức th́ ch́a mác ra đâm. V́ thế ai ai cũng phải lánh xa. Tôi ở dưới ấy măi đến gần sáng mới về, nhà tôi vẫn chạy rông chạy càn, chẳng chịu dừng chân lúc nào. - Bên nhà đă định chạy chữa bằng cách nào chưa? - Hôm qua mẹ tôi xuống chợ Đồng Xuân xem bói, tôi tưởng thầy bói thế nào cũng phán cho lập năm, bảy đàn tràng, nhưng mà không, ông ta bảo là động mả ông cụ tam đại, phải mua mũ đen mă đen và một con ngựa sắt đen đem tạ. - Đă tạ chưa? - Tạ rồi! Tạ luôn từ chiều tối hôm, nhưng mà có ăn thua ǵ cô bảo? - Vậy th́ bác tính thế nào? - Gà gà hôm nay ở dưới Bạch Mai, tôi thấy cúng kính không được chuyển bệnh, mấy lần khuyên bảo thầy tôi thử theo lời cô, tát cho nhà tôi một cái. Nhưng mà thầy tôi gàn quá, chỉ sợ tát vào mặt ông khoa mục th́ chết, nhất định không chịu nghe lời. Thôi th́ việc đó xin nhờ cô. - Tôi làm ǵ được! - Nhà tôi lúc thường vẫn trọng cô lắm, ngồi với anh em bạn học luôn luôn khen cô là bực tài hoa, học giỏi hơn các ông Nghè, ông Cống. Vậy cô làm phúc, thử xuống Bạch Mai tát cho nhà tôi một cái, xem có cứu được nhà tôi không! Nếu không khỏi bệnh, không phải lỗi tại cô. Bằng như khỏi bệnh, tôi xin đền lại ơn cô một cách xứng đáng. Xuân Hương tủm tỉm cười nụ: - Không được bác ạ? Bác trai trọng tôi th́ có trọng thật, tôi cũng biết thế. Nhưng chỉ trọng tôi mà thôi, chứ không sợ tôi. Phải có người nào bác ấy vẫn sợ như thể ông bố nhà ta th́ mới làm được việc ấy. Người vợ Cao Đệ lại khóc: - Thầy tôi đă khăng khăng một mực không chịu làm rồi. Nếu cô không giúp, tôi cũng không biết cậy ai được nữa. Nhưng mà tôi tưởng trọng tức là sợ, nhà tôi đă phải trọng cô, tất nhiên cũng phải sợ cô. Cô hăy làm phúc cứu lấy nhà tôi! Thấy chị ta nằn ń nàng rất thương hại, liền nói: - Nếu vậy, th́ tôi cũng nhận lời bác nhưng để đến chiều hôm nay, xem rằng bác trai có tỉnh không đă! Nếu bác ấy dần dần tỉnh lại th́ thôi, nhược bằng không, bấy giờ tôi sẽ giúp bác. Nhưng tôi nói trước, đó là tôi cũng theo đúng lời dạy trong sách mà nói thế thôi, chứ tôi không nhất quyết rằng làm vậy sẽ khỏi được bệnh bác ấy! Người vợ Cao Đệ có ư mừng rỡ: - Cái đó là lẽ cố nhiên, việc ǵ cô phải rào trước chắn sau như thế. Cám ơn nàng một cách chân thật và thiết thẩm, chị ta lủi thủi xuống gác. Nàng thử lẩn mẩm giở lại một vài bộ sách, để xem chuyện người sướng quá điên ở đâu. Nhưng mà không thấy đâu cả, nàng cứ băn khoăn đứng ngồi không yên, trong bụng lúc nào cũng canh cánh nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết ḿnh đă thấy ở sách nào, lâu ngày quên mất, bây giờ nhớ măi không ra. Quá trưa, ngoài cửa có tiếng ầm ầm, một người đàn ông lộc ngộc đă bắt được Cao Đệ trói lại điệu về. Ngó qua cửa sổ, nàng thấy ông Cống tân khoa vẫn đeo một mảnh quần rách, ḿnh mẩy mặt mũi bùn trát kín hết một lượt, trông như con trâu mới ở vũng lên. Một lúc sau, người vợ Cao Đệ hốt hoảng chạy sang và nói: - Mời cô sang cho! Anh em đă trói nhà tôi đem về nhà rồi. Nàng toan từ chối không sang, những nghĩ ḿnh đă trót hứa với người ta rồi, nếu không sang thành ra con người thất tín. Tức th́ nàng vấn khăn mặc áo chinh tề, rồi theo cô Cống đến nhà hàng thịt. Nguyễn Cao Đệ tuy đă bị trói bằng một chiếc thừng khá lớn, lại có độ bốn năm người lực điền xúm lại giữ tay giữ chân, ông ta vẫn c̣n đủ sức lồng lộn cựa cậy, nhồm lên nhồm xuống và vẫn lảm nhảm đọc đi đọc lại một câu "ư a ta đỗ rồi". Xăm xăm bước vào tận nơi, nàng giơ thẳng cánh tay phải tát đánh bốp vào mặt Cao Đệ một cái rồi thét thật to: - Anh đỗ bao giờ mà chỉ nói láo! Sức học như anh đỗ làm sao được! Chẳng tin các người thử điệu anh ấy xuống dưới trường thi coi bảng, thử xem có đỗ hay không! Nàng nói dứt câu, Cao Đệ lập tức ngă đùng xuống đất, mê man không biết ǵ cả. Cả nhà hàng thịt đều sợ cuống quít, tưởng rằng ông Cống sắp sửa qui tiên. Nàng bảo những người chung quanh cố vực Cao Đệ vào giường, rồi lấy một ấm nước lạnh phun khắp vào mặt ông ta. Nửa giờ sau Cao Đệ dần dần tỉnh lại, bấy giờ h́nh như mới biết trong ḿnh có nhiều chỗ đau, v́ rằng từ lúc phát điên đến giờ, ông ta đă rúc vào nhiều bụi dong, bụi gai, và lăn vào nhiều đống sành, đống gạch, thân thể toạc ngang toạc chéo y như con cá rô nướng. Hừ hừ rền rẫm một hồi, Cao Đệ sờ đến quanh ḿnh, chỗ nào cũng thảy những bùn là bùn, lấy làm lạ, ông ta liền hỏi tại sao mà ḿnh lấm láp như thế. Người vợ ngồi cạnh liền thuật lại câu chuyện phát điên cho nghe, Cao Đệ có ư xấu hổ vội vàng quay mặt vào trong và giục vợ lấy nước lau rửa cho sạch. Dường như ông ta vẫn c̣n khiếp sợ bố vợ. Lúc vợ đứng dậy ông ta c̣n gọi trở lại, ghé tai dặn nhỏ một câu: "Lấy nước phải có ư tứ và phải dấu cho kín, kẻo ông trông thấy th́ ông chửi chết." Thấy Cao Đệ đă tỉnh, Xuân Hương đứng lên xin về. Cả nhà hàng thịt hết sức cảm ơn. Ông lăo hàng thịt nói thêm: - Cô là một người nhiều chữ, cho nên cô tát ông Cống cũng không việc ǵ. Tôi là kẻ dốt đặc cán mai, nếu tôi mà tát ông ấy, tất nhiên đêm nay tôi sẽ phải gió mà chết. Nàng ra đến cổng, người vợ Cao Đệ tất tả chạy theo và nói: - Ơn cô vạn bội, cô đă cứu được nhà tôi. Nay mai vợ chồng nhà tôi xin sang tận nhà mà tạ ơn cô... Sau khi Nguyễn Cao Đệ khỏi điên, danh tiếng của Hồ Xuân Hương càng to hơn trước. Trước kia thấy văn thơ nàng có vẻ lẳng lơ, người ta chỉ bảo nàng là đồ gái đĩ thoă. Đến nay nghe tin một ông hương cống tân khoa đương lúc hóa rồ, hóa dại, nàng tát một cái mà khỏi, người ta lại cho nàng là thứ yêu quái thiêng liêng, không phải loài người. Nhân thấy trong sách Lĩnh Nam trích quái có chuyện con hổ chín đuôi ở trong Hồ Tây thường hóa làm con gái đẹp để đi cám dỗ con trai, lại thấy nàng người họ Hồ mà cũng ở gần Hồ Tây, nhiều kẻ mới quyết đoán rằng chính nàng là loại hồ tinh do con hổ chín đuôi kia hóa ra. Từ đó, những kẻ nhát gan thấy nàng đi qua, th́ lánh cho xa, họ sợ bị nàng cảm dỗ hoặc giả hại đến tính mệnh. Nhưng mà những bậc danh sĩ, nhất là những người đă có đọc qua mấy bộ Duyệt vi thảo đường và Liêu trai chí dị, hâm mộ những sự ly kỳ, muốn được gặp nàng, để coi h́nh dáng và cử chỉ của loài yêu tinh ra sao. Những cái tin đó đều đến tai nàng, nàng chỉ cười thầm cái kiến thức trẻ con của bọn học thức. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 08:54 AM Post #13 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Tiếng loa vừa dứt, tiếp đến tiếng dạ ở ngoài xa xa, một người học tṛ trẻ tuổi áo the quần trắng cố sức lách qua đám đông tiến vào khu đất cửa trường. Người lính cầm loa lại bắc gọi lần nữa và người học tṛ trẻ tuổi cũng dạ một lần nữa. Lúc ấy bọn lính kiểm soát liền lĩnh một chiếc mũ đuôi én và một tấm áo lam ban cho người học tṛ ấy. Đội mũ mặc áo chinh tề, người học tṛ ấy lính xính chắp tay vào ngực đi vào trong nhà thập đạo. Người lại pḥng cầm sổ lại xướng cho người lính cầm loa gọi đến tên khác. Ngoài cửa trường không thấy tiếng dạ, cái loa lại phải ậm ọe gọi mấy lần, vẫn không ai thưa, quan trường phải cho lính đi xuống đám đông hỏi xem có ai gặp ông tân khoa ấy không. Th́ ra ông ấy ra bộ không nóng nảy về đường công danh, tuy nghe tin ḿnh đậu hương cống, anh em họ Mạc đă mấy lần sai người về báo, ông vẫn ngất ngưởng đánh chén ở nhà trọ, chứ không thèm ra. Sau khi đă phái h́nh vào tận nhà trọ đ̣i gọi người học tṛ ấy, quan trường bảo người lại pḥng đọc cho lính cầm loa gọi luôn người dưới. Mỗi tiếng gọi là một tiếng dạ, môi tiếng dạ là một bộ mũ áo đưa xuống, xướng danh hết trên mười người không xảy ra sự ǵ cả. Người lính cầm loa cứ việc theo miệng người lại pḥng gọi đến người mười bảy. Không có người nào thưa thốt cả, nhưng ở ngoài tít đằng xa, có một ông học tṛ vào khoảng ngoài bốn chục tuổi bận áo nâu, vấn khăn vải, úp cái nón chóp sơn vào ngực, vừa đấm vào chóp nón, vừa nhảy chân sáo vừa reo: - Sú lợn về ai? Thử xem sú lợn về ai? Ông ấy Chinh là ông hương cống thứ mười bảy, bè bạn đứng cạnh, thấy người lính cầm loa ậm ọe gọi hoài, ông này vẫn không thèm thưa, mấy người liền vỗ vào vai và hỏi: - Đă biết thủ lợn về ông, chứ về ai nữa, nhưng ông phải dạ một tiếng, rồi lĩnh mũ áo đi vào ăn yến, sao cứ để người ta gọi măi? Ơng ấy cũng không trả lời cứ việc nhảy chân sáo, đấm vào chóp nón mà thét: - Sú lợn về ai? Thử xem sú lợn về ai? Loa đồng gọi đă hết hơi, cái nón chóp sơn bị đấm đă bẹp, ông đó vẫn cứ chân nhảy choi, miệng reo thủ lợn về ai, không thèm thưa cũng không thèm vào. Bực quá, quan trường phải bảo lính xuống tận nơi, hỏi thăm những người quen thuộc của ông ta, biết đích ông ta đậu thứ mười bảy, liền cho lính dẫn vào cửa trường, đưa mũ đưa áo cho ông ta. Không đội mũ, cũng không mặc áo, ông ta chỉ lảm nhảm nói hoài một câu "sú lợn về ai", lính phải cắp mũ cắp áo và đưa ông ta vào tận trong nhà thập đạo. Người lính cầm loa theo người lại pḥng gọi luôn bốn năm người nữa, rồi gọi đến Nguyễn Cao Đệ, Hà Nội, Khán Xuân, hương cống thứ hai mươi hai. Cũng như ông cống thứ mười bẩy, Nguyễn Cao Đệ nghe thấy loa gọi tên ḿnh, cũng không thưa dạ, chỉ nhảy chân sáo và reo thật to: - Ư a! Ta đỗ rồi! Thế rồi như ngựa đứt cương, Nguyễn Cao Đệ lồng tế một mạch từ khu cửa trường lên khu cửa Nam, quan trường cho lính đuổi theo không kịp. Gọi nốt ba người dưới nữa, thế là xong cuộc xướng danh, khoa ấy lấy hai mươi nhăm hương cống cả thảy. Các ông tân khoa và các quan trường đă vào trong nhà thập đạo hết rồi, bấy giờ cửa trường mới kéo bảng hương cống rồi kéo đến bảng sinh đồ. Có một vài ông mắc phải những tội thiệp tích, phạm húy, phạm trường qui đều bị nêu tên ra chiếc bảng con. Hàng xứ dần dần về hết, Xuân Hương ghé lại xem tấm bảng con, thấy có tên Đặng Như Bích, phạm lỗi "quyển viết không đủ. Nàng mỉm cười và đương nghĩ thầm "thế cũng đạo mạo lên mặt công tử? Bỗng ở đằng xa nghe có tiếng người ồn ào và sự ồn ào mới tiến gần lại. Giây lát, một bọn học tṛ độ năm sáu người, anh nào anh ấy rượu say bét nhè, vừa đi vừa gọi tên các ông quan trường chửi rủa inh ỏi. Th́ ra những ông học tṛ ấy đều phúc hạch và bị hỏng tuột. Họ tự cho là văn họ đáng đỗ, v́ quan trường không biết bẩm văn, đánh hỏng họ. Cơn cảm khái nổi lên, họ rủ nhau vào hàng đánh chén, hơi men hăng bốc, khí tức càng lên đùng đùng, họ liền kéo đến cửa trường mà chửi những người đă làm cho họ phải hỏng. Cổng trường đă đóng, những ông tân khoa và các ông quan trường đương vui vẻ trong tiệc lộc minh, chợt nghe ở ngoài có người gầm thét, quan trường liền cho lính ra hỏi chuyện ǵ. Sau khi đă biết là bọn học tṛ sinh sự, quan trường phải sai mấy người lại pḥng ra đó vừa dọa nạt, vừa an ủi, cốt cho họ hăy im đi. Nhưng mà vô hiệu, bọn kia trước c̣n đứng, sau rồi ngồi, sau nữa th́ lăn đành đạch xuống đất họ cứ réo tên quan trường chửi mắng một cách thậm tệ. Chán chửi quan trường, họ lại chửi trời chửi đất chửi các vị thần thánh, chửi đến những người đứng xem ở chung quanh. Một lúc sau, họ đều ù té đứng dậy và chạy đùng đùng ra phía bờ hồ Hoàn Kiếm. Không biết họ định đến đó làm ǵ, hàng xứ lốc nhốc chạy theo để xem. Té ra họ định dắt nhau đến hồ tự tử, một dăy ngồi trên bờ hồ, anh nọ ra dáng can đảm bảo anh kia: - Phải để cho tao chết trước. Anh kia cũng ra bộ hăng hái và bảo anh nọ: - Tao chết trước chứ, mày không được phép nhảy xuống trước tao! Gió bắc ào ào, hơi nước kéo lên lạnh ngắt, cả bọn cùng tḥ một chân xuống hồ, rồi tức th́ cả bọn lái rụt lên liền; h́nh như trong nước giá quá, cái chân bằng thịt không thể để lâu ở dưới ấy. Cuối cùng một người ra ư khoáng đạt bảo với mọi người: - Muốn chi th́ khó, chứ muốn chết th́ có khó ǵ, định chết th́ chết lúc nào chẳng được? Can ǵ phải chết trong lúc giá rét cho khổ thân, chúng ta hăy về nhà trọ chén thêm cái đă! Mọi người đều khen nói phải, cả bọn đều đứng dậy và lại tất tả chạy về, ai nấy vẫn c̣n say dí say d́, loạng choạng, chân nam đá chân chiêu, lảo đảo như lên đồng trượng làm cho hàng xứ cười reo ầm ĩ. Coi hết tấn hài kịch ấy, Xuân Hương lẽo đẽo cắp nón về phường Khán Xuân, giữa đường, nàng bỗng nhớ đến Nguyễn Cao Đệ. V́ ông đó với nàng cùng ở một phường và hai nhà cách nhau cũng không xa lắm, lư lịch ông ta nàng biết hết cả, ông ta tư chất khá, thông minh, học hành lại rất chăm chỉ, nhà nghèo, bố mẹ chết cả, không ai cấp dưỡng, không có lương ăn, ông ta phải đến nương nhờ nhà vợ, để ḥng theo đuổi cho trọn nghiệp học. Bố vợ làm nghề hàng thịt, mẹ vợ vẫn thường bán thịt chợ Đồng Xuân. Cả hai tính nết cũng y như nhau, đều là hạng ăn phàm nói phũ và đều không ưa việc học. Lúc đầu ông ta mới đến ở rể, nhà vợ c̣n hơi kính trọng. Dần dần thấy ông ta chỉ ăn hại mà không làm lợi cho nhà ấy đồng nào, th́ từ bố mẹ trở xuống đến đứa em vợ nhỏ nhất, đều có ư ghét, trước c̣n đá mèo quèo rể, sau th́ họ nói thẳng vào mặt ông ta. Vợ tuy thương chồng, nhưng v́ không kiếm được đủ nuôi chồng, nên cũng không dám bênh chồng, trái lại, nhiều khi chị ta lại phải đay nghiến ông ta để lấy ḷng cha mẹ là khác. Ông ta đă mấy phen cắp gói ra về, toan t́m một chỗ dạy học độ thân, nhưng không t́m đâu cho ra, sự đói khó lại bắt ông ta cứ phải vác bộ mặt dầy trở lại nhà vợ. Từ đó bố vợ mẹ vợ lại càng khinh rể, mẹ vợ mỗi khi sắp sửa đi chợ lại gọi nheo nhéo: "Đệ đâu? Đi ra gánh thịt xuống chợ cho tao!". C̣n bố vợ, những lúc say rượu, thường thường mắng chửi ông ta, bảo ông ta phải thôi học để đi khiêng lợn, mổ lợn. Tuy rằng từ lúc đi thi đến giờ ông ta đă được vào luôn mấy kỳ và lại được vào phúc hạch, bố vợ mẹ vợ cũng không nể mặt, họ vẫn thường chỉ vào mặt ông ta và nói: "Mày được vào thế, chẳng qua chó ngáp phải ruồi, chứ đậu đâu đến thứ những người như mày". Chính tối hôm qua, ông ta cao hứng nói với vợ rằng: "Sáng mai dậy sớm, để ra cửa trường nghe xướng danh" chẳng ngờ câu ấy lỡ lọt vào tai bố vợ, bố vợ liền nổi giận lôi đ́nh và thét: "Đừng có làm bộ, điếc tai ông! Trong sự thi cử, ai đỗ phải có các v́ tinh tú trên trời giáng vào người ấy. Mày thử nghĩ xem, tinh tú nào giáng đến mặt mày mà mày c̣n ḥng nghe xướng danh! Sáng mai dậy sớm đi hốt phân lợn cho tao"! Ông ta thấy thế lại phải nín im phăng phắc, không dám thở mạnh, và rón rén vào giường nằm. Từ mấy năm trước, Xuân Hương nghe chuyện cực nhục của ông ta, nàng đă mấy lần toan bỏ tiền ra giúp cho ông ta ăn học, nhưng v́ nghĩ ḿnh là gái chưa chồng, làm vậy hoặc giả đến tai ông bà cha chú trong họ không khéo lại xẩy ra điều nọ tiếng kia, v́ thế nàng lại phải thôi. Lúc ở cửa trường, nghe loa gọi tên ông ta, nàng cũng mừng thay cho người học tṛ nghèo khó, từ nay chắc là không bị nhà vợ rầy rật như trước. Khi thấy ông ta không thưa, không dạ, đùng đùng cắp nón chạy đi, nàng không hiểu là v́ cớ ǵ, cho rằng ông ta căm tức bố vợ mẹ vợ, đă lâu, nay đă thi đỗ, th́ về nói cho họ biết. Nàng để ư ngắm, từ thủy chí chung, không thấy ông ta trở lại cửa trường để lĩnh mũ áo, th́ nàng lại có ḷng ngờ, tưởng là ông ta phải cảm, đau bụng sao đó lúc trở về, vừa đ́ nàng vừa nghĩ thầm: "Chắc Nguyễn Cao Đệ mới bị bạo bệnh, nếu không sao hắn lại bỏ bữa yến vua ban." Khi tới đầu phường Thái Cam bỗng ở trước mặt có đám vơng lọng, nghênh ngang, chính là cả một nhà vợ Cao Đệ, bố vợ khiêng một đầu đ̣n vơng, mẹ vợ khiêng một đầu đ̣n vơng, hai đứa em vợ vác hai cái lọng, c̣n vợ ông ta th́ lơng thơng đi với chiến nón thúng quai thao cầm tay, Xuân Hương mỉm cười và hỏi: - Thế nào! ông Ba, bà Ba, sao không về nhà bầy biện đồ đạc để tiếp khách mừng ông Công lại c̣n vác vơng vác lọng đi đâu bây giờ? Tơi tả, người hàng thịt trả lời: - Chào cô. Cô ra coi xướng danh đă về đấy ư, chúng tôi nghe tin ông Cống mới đỗ, nên phải mang vơng mang lọng ra cửa trường để rước ông ấy về nhà. - Sao ông bà không thuê người khác! Ai lại bố vợ mẹ vợ đem vơng đi rước chàng rể? - Có thế mới quư cô ạ! Thiên hạ dễ đă mấy người có rể để mà rước? Rể có thế nào th́ mới rước chớ, công vợ chồng tôi nuôi cho ông cống ăn học trong bao nhiêu năm, thật là ch́u hơn ch́u cha ch́u mẹ, bây giờ ông ấy làm nên thế này ḿnh cũng bơ công! Có phải không cô? Nàng lại mỉm cười và đáp: - Phải! Ông bà đi rước ông Cống nghĩ ra cũng phải! Nhưng ông Cống không có ở trường, tôi tưởng ông ấy về nhà. Vợ chồng người hàng thịt đều cười và nói: - Thôi đ́, cô đừng nói trêu chúng tôi, chúng tôi lại không biết rằng bây giờ ông ấy hiện đương ăn yến hay sao! Rồi họ cứ khiêng vơng, vác lọng rảo bước đi đến trường thi. Xuân Hương không muốn nói thêm, nàng bụng bảo dạ: "Người ta trở mặt chóng thế ! Vừa tối hôm qua c̣n là học tṛ, cả nhà coi như con chó, bây giờ đỗ lên một cái, họ đă c̣i như thần như thánh cả rồi, không trách những kẻ thông minh chỉ vùi đầu vào việc thi cử". Nàng đi về đến gần phường Khán Xuân, th́ thấy nhiều người nhao nhao nói chuyện với nhau: - Ông Nguyễn Cao Đệ phát điên! Nghe nói ông ấy đă đậu hương cống đấy mà, đừng nói láo! - Đến tai ông ấy th́ có mà sống dở. - Bây giờ người ta là ông Cống rồi, không phải là kẻ bạch đinh như trước mà anh nhờn! - Thật đấy, ông ấy phát điên thật đấy! Chẳng điên th́ sao trời rét thế này, mà lại cởi trần trùng trục; lăn hết các vũng trâu đằm! - Ở đâu? - Ở Ô Cầu Giấy chứ đâu, chẳng tin anh thử sang tận bên ấy mà xem? Tức th́ mấy người kéo cả sang Ô Cầu Giấy. Xuân Hương lững thững về nhà, nàng biết là Nguyễn Cao Đệ điên thật, v́ hắn khổ cực đă lâu, nay được thi đậu, sướng quá cho nên hóa điên. Nàng lẩm bẩm cười thầm: "Mới đậu hương cống đă đến nỗi phát điên! Người đâu mà khí cục hèn đến thế!" Về tới nhà, nàng vừa ăn xong bữa cơm, đă thấy ngoài đường tiếng khóc vang ầm, hỏi ra mới biết vợ chồng hàng thịt đón rể không gặp, vác vơng vác lọng về không, cực thân mà khóc. Một lát sau, lại thấy ngoài phố có tiếng ầm ầm, nàng mở cửa sổ trông ra, th́ thấy độ bốn năm người lực lưỡng đương co kéo một người lấm như trâu vùi, người ấy chính là Cao Đệ, hắn bị co kéo sểnh sách đă không đủ sức mà cựa, vừa đi vừa nói lảm nhảm: - Ư a! Ta đỗ rồi. Ư a! Ta đỗ rồi! |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:03 AM Post #14 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Bà d́ vừa vào, làm cho câu chuyện ngừng lại. Bà ấy tỉ tê hỏi nàng hết thảy công việc của nàng mới rồi, từ việc bị ông Chưởng Vệ rẫy ra đến việc cải trang đi thi và việc bị bọn sĩ tử toan đến phá nhà. Nàng đều cứ thật nói lại một lượt rành mạch. Bà d́ căn vặn khuyên nàng từ rầy trở đi, không nên chua ngoa, nhất là không nên trêu ghẹo những người học tṛ làm ǵ, người ta dốt th́ mặc người ta, không việc ǵ đến ḿnh. Cơm nước đoạn, bà ấy lại bảo cho nàng biết rằng thấy đồ bên cạnh là người ở huyện Nam Đàn, ông ta xưng là học tṛ cha nàng khi xưa lại biết tiếng nàng học giỏi, thường dặn bà ấy, khi nào nàng sang Kinh Bắc th́ xin cho biết, để ông ta sang chơi. Nàng nghĩ cha nàng khi trước tuy quán ở huyện Quỳnh Lưu, nhưng vẫn ở luôn Bắc Thành, làm ǵ lại có học tṛ ở huyện Nam Đàn. Hay là ông đó thấy d́ nàng thân với nhà nàng, nên cũng nhận vơ thế chăng? Tuy vậy, nàng cũng tỏ ư vui vẻ, hứa đến ngày mai sẽ tự sang ông ta. Đêm ấy, d́, cháu, chị, em, chuyện lơi, chuyện lả, hết chuyện gần đến chuyện xa gần quá nửa đêm, vẫn chưa ai ngủ. Sáng sớm hôm sau, người con gái nhỏ bà d́ cắp sách đi học, nàng cũng nói với bà ấy luôn thể để em đưa ḿnh sang thăm ông đồ. Sau chiếc án thư gác cây roi mây dài hơn một sải, và đặt một cái ca đàn mài son, thầy đồ quấn vành khăn vải nhuộm màu tam giang, ngất ngưởng ngồi trên bộ phản với cái điếu đàn, hai ghế hai bên lố nhố một lũ con nít mặt mũi nhếch nhác, quần áo lem luốc và la liệt những cuốn sách mỏng và nát nhàu. Thấy nàng, thầy đồ ra vẻ ngạc nhiên liền hỏi bàng giọng trọ trẹ: - Cô tới mần chi! Xin câu đối chứ? - Tôi là Hồ Xuân Hương, nghe nói ông dạy học ở đây nên tôi sang thăm. Luống cuống, ông đồ mời nàng ngồi vào phản ḿnh và rối rít sai lũ học tṛ xuống bếp đun nước. Một cậu học tṛ có ống mũi dài như hai cái ngà voi tiến đến phía trước án thư, ch́a sách thẳng mặt thầy đồ, nói bằng tiếng mũi: - Thưa thầy chữ ǵ? Nghiêm nghị, thầy đồ cúi nh́n vào sách và đáp: - Túc là đủ... ụ. Vui vẻ, cậu đó quệt ngang ống mũi vào ống tay áo, rồi quay trở ra vừa đi vừa học: - Túc là đụ a? Túc là đụ a! Thầy đồ cau mặt quát lớn: - Ai bảo mi túc là đụ, thằng kia? Túc là đụ... ụ chứ! Nét mặt ngơ ngác, cậu đó chỉ đứng lần thần. Thầy đồ lại giục: - Túc là đụ . . . ụ ! Học đi ! Cậu bé lại học: - Túc là đụ a! Túc là đụ a! Thầy đồ phát cáu: - Lại đây! Thằng kia! Cậu đó trở lại phía trước án thư với bộ mặt lo sợ. Thầy đồ cầm cây roi mây quật xuống án thư đen đét và noi: - Túc là đủ . . . ụ chứ? Ai bảo mi túc là đụ bao giờ? Cậu đó vẫn học: - Túc là đụ a! Túc là đụ a? Thầy đồ nổi cơn lôi đ́nh, nền vút cho cậu hơn chục roi mây và mắng: - Đụ ǵ? Đụ cha đụ mẹ mi à? Đă bảo túc là đủ... ụ sao lại cứ "túc là đụ" hoài? Cậu bé van lạy rối rít, và khóc nức nở. Thầy đồ lại thét: - Túc là đủ... ụ? Học đi? Hễ c̣n "túc là đụ" nữa th́. . . một trăm roi vào đít! Cậu bé vẫn cứ x́ xoạt không dám cất tiếng. Xuân Hương mỉm cười, nàng nh́n cậu kia và nói một cách ngọt ngào. - Thầy bảo túc là đủ, sao em cứ học túc là đụ? Cậu bé như đă tỉnh ngộ, cắp sách chạy sang chỗ ngồi của ḿnh. Một cậu bé khác xách siêu nước từ dưới bếp lên: - Thưa thầy, nước sôi rồi ạ! Giở sâu ch́a khóa, mở tráp lấy gói chè nụ, thầy đồ bỏ một nắm chè và xách ấm đưa ra cho cậu học tṛ: - Rót vào đây! Khói nước bốc lên, mùi hoa sói bay ra ngào ngạt, thầy đồ sẽ sàng rót lưng chén nước, cung kính, hai tay nâng đưa Xuân Hương: - Mời cô xơi nước! Xuân Hương vừa đón chén nước lên tay, một bé nữa đem sách đến nh́n vào mặt thầy đồ: - Thưa thầy chữ ǵ? Thầy đồ ra giọng oai vệ: - Chữ môn là cựa! Cậu ấy theo luôn lời thầy: - Môn là cựa! Môn là cựa a! Thầy đồ trừng mắt và thét: - Cựa là cựa ra cựa vô, chứ cựa cha cựa mẹ mi à! Xuân Hương ph́ cười, nàng liền bảo giúp: - Môn là cửa kia mà! Không phải "môn là cựa"! Thầy đồ đỡ một trận quát tháo, cậu bé cũng thoát một trận sợ sệt. Giữa phản bên cạnh những tiếng ê a, ề à nhất tề nổi lên, nghe như một đám tụng kinh. Một lát sau, tiếng học dần dần uể oải, các cậu học tṛ chen nhau, đẩy nhau, chí chóe căi nhau. Rồi một cậu nhỏ mếu máo đến trước án thư chắp tay: - Thưa thầy, anh Quế bẹo con đấy ạ? Ông đồ dơng dạc: - Quế đâu, ra đây! Một cậu run rẩy tiến lại, sắc mặt xám mét, hai bàn tay núc lại với nhau, giống như ông thầy phù thủy bắt quyết. Thầy đồ hách dịch: - Làm sao mi dám bẹo nó hử Quế ? Cậu Quế vẫn cứ núc tay. Vút! vút! Vút cây roi mây trong tay thầy đồ quất luôn ba cái vào lưng cậu này, rồi thầy đồ lên giọng bệ vệ: - Học không học, chỉ cḥng nhau? Thôi cho về chỗ. Cậu ấy ̣a khóc lùi xuống, lại một cậu nữa láu táu tiến lên: - Thưa thầy. . . - Cái ǵ hử? - Thưa thầy, hôm qua anh Sâm ra đường chửi nhau. Để cho chúng nó... Cậu đó lại im. H́nh như không dám nói nốt. Thầy đồ liền gặng: - Chúng nó mần ǵ? - Chúng nổ chửi... thầy. - Chửi thế nào? - Thưa thầy, chúng nó chửi... - Chửi thế nào. Cho mi cứ nói! Thưa thầy chúng nó chửi rằng: "mẹ cha thằng thầy mày ạ" ! Thầy đồ giương tṛn hai mắt: - Sâm! lại đây. Mau! Trống ngực hồi hộp. Cậu Sâm khúm núm đi lại đứng tựa vào cột. Thầy đồ chỉ cây roi mây xuống đất: - Nằm xuống đó! Cậu Sâm khóc nhếch khóc nhác, lạy như tế sao. Thầy đồ quát lớn: - Đứa nào vật cổ nó xuống cho ta! Các cậu bên phản ngơ ngác nh́n nhau, không cậu nào chịu vâng lời thầy. Thầy đồ đùng đùng nổi giận, giở roi vụt luôn vào cổ cậu Sâm mấy cái: - Có nằm xuống không? Vô phép! Cậu bé đáng thương nằm xoài xuống đất với những tiếng khóc rầm ŕ. Thầy đồ ngồi trên ghế ngựa chĩa roi xuống một chập độ sáu bảy roi. Mỗi tiếng đánh "vút" một cái, cậu lại oằn oại lăn cựa giống như con rắn sắp chết, và van thầy, lạy thầy vang một góc nhà. Tan cơn giận, thầy đồ đặt roi xuống mặt án thi: - Thôi tha cho dậy! Lóp ngóp đứng dậy, cậu Sâm lạy xuống đất lạy thầy hai lạy. Theo lệ thường của thầy đồ, mỗi khi học tṛ bị đ̣n phải nằm xuống đất, lúc được trở dậy, không đợi thầy bảo cứ phải lễ tạ hai lễ, cậu nào không nhớ lệ ấy, tức th́ lại phải nằm xuống chịu tội một lần thứ hai. Lạy xong cậu bé đáng thương nâng áo chùi nước mắt, trở lại chỗ cũ. Thầy đồ rót tuần nước nữa mời Xuân Hương, rồi quay ra bảo bọn học tṛ: - Hôm nay thầy c̣n bận có kỳ văn trước cho không khiến kể nghĩa, sách tô để ngày mai sẽ chấm, về mà học ôn bài học hôm qua, nghe không? Các cậu học tṛ hết thảy hớn hở vui mừng, nhao nhao gập sách đứng dậy. Thầy đồ ngoảnh lại nói với Xuân Hương: - Bữa nay v́ có kỳ văn nhật khắc, tôi cho chúng nó nghỉ sớm một chút... Xuân Hương tươi cười và hỏi: - Ông vẫn tập ở trường nào? Thầy đồ đáp một cách tự đắc: - Tôi không tập ở trường nào cả. Nhưng mỗi tháng hai kỳ, anh em rủ đi làm văn, nể họ quá, tôi phải nhận lời. - Những quyển văn ấy. Các ông nhờ ai chấm cho? Cụ Nghè Đặng chấm sơ, cụ Nghè Hoàng chấm phúc, đầu bài cũng ở hai cụ ra cho. Cô tính chỉ các cụ Nghè là bậc túc học mới chấm nổi văn chúng tôi, chứ các ông Cống. . . ! Thầy đồ đương nói dở câu th́ một dây "lạy thầy" đồng thời nổi lên, các cậu học tṛ tranh nhau cắp sách ra cửa, đẩy ghế bên cạnh, chỉ c̣n một người em gái Xuân Hương. Hết cơn ào ào, nàng lại hỏi thêm thầy đồ: - Các ông làm văn ở đâu ở đ́nh làng Đọ, ngay bên cạnh đây! - Tôi muốn sang xem có tiện hay không? - Tiện lắm! Mời cô sang chơi. Anh em học tṛ Kinh Bắc nhiều người cũng biết tiếng cô. Tṛ truyện vài ba câu nữa, Xuân Hương cáo biệt đứng dậy, cùng người em gái trở về nhà d́. Thầy đồ tiễn ra đến cửa, khi quay đầu lại chào ông ấy, nàng vừa trông thấy vú già của nhà chủ lễ mễ bưng ở bếp lên cái mâm gỗ mốc trong đựng một liễn cơm, một âu canh, một bát rau muống luộc, một đĩa cà thâm x́ và một bát tương. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:09 AM Post #15 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Tuy là giữa tiết mùa Đông, sớm nay trời ra vẻ trong trẻo hơn các sớm khác. Một lát sau khi sáng rơ, các đám mây mù đều bị dạt xuống chân trời, nhường chỗ cho mặt trời từ từ vượt lên dăy núi phương đông để báo tin một ngày ấm áp. Xuân Hương vừa tan tiệc chè buổi sáng, nàng thơ thẩn đứng tựa cửa gác nh́n ra Hồ Tây. Trên đường Cổ Ngư, thấy có một người đàn ông từ nẻo cửa Bắc lững thững đi lại. Ngắm kỹ dáng bộ người ấy, nàng đoán chừng là Đặng Như Bích. Giây lát người ấy lại gần, quả nhiên là chàng ta. Số là hôm trước khi ở trường ra, t́nh cờ gặp nàng giữa đường, Như Bích tuy v́ hổ thẹn mà ngoảnh mặt đi, nhưng trong bụng vẫn không quên nàng. Về đến nhà đưa những bản nháp lên tŕnh cụ Nghè, chờ cụ xem xong và b́nh phẩm qua loa vài câu, chàng liền đi xuống nhà học. Cơm nước xong, chàng sai thằng nhỏ giũ giường buông màn, rồi chàng bảo nó đóng cửa để ḿnh nằm nghỉ. Suốt đêm ấy, cặp mắt, cặp môi và đôi g̣ má Xuân Hương luôn luôn ở trước mặt chàng, khiến chàng lật quật hết nằm lại dậy, không sao ngủ được, tuy cả ngày hôm trước, chàng đă mệt lử về việc cánh quyển và viết bài. Gió bắc hiu hiu lùa vào cửa sổ, ngọn đèn trên quang lướt đi lướt lại ŕnh tắt. Ánh sáng lờ mờ chiếm cứ cả một gian pḥng, làm cho chàng càng thêm buồn bă. Chàng không nghĩ ǵ đến việc thi cử, không nhớ ǵ đến văn bài mà ḿnh mới viết ở trường, bao nhiêu tâm trí, chàng để hết vào Hồ Xuân Hương. Trong bụng chàng khi ấy, nàng đă trở nên một người con gái hoàn toàn, có tài có sắc lại có cả đức hạnh nữa, xứng đáng là người nội trợ của chàng, chàng nhất định phải cậy mối đưa tin hỏi nàng làm vợ, không ngại những chuyện đă xảy ra giữa chàng với nàng từ mấy hôm nay, chàng tự tin rằng nhà chàng hồi ấy hăy c̣n danh giá bề thế gấp mấy nhà nàng, nếu chàng mượn người hỏi giúp, chắc là thế nào cũng xong. Nhưng chàng lại ngại không biết cụ Nghè có bằng ḷng hay chăng, hay là cụ lại chê nàng đĩ thơa, mà không cho chàng lấy nàng. Chàng cứ nghĩ quanh như thế, vừa đến sáng bạch, không nhắm mắt được một phút nào. Sáng ra, chải đầu, rửa mặt xong rồi. Mấy lần chàng toan đi lên nhà trên, đem cái ư định của ḿnh nói với cụ Nghè, nhưng lại rụt rè không dám. Rồi cái dáng dấp yểu điệu, cái dung nhan xinh đẹp của Xuân Hương lại làm cho ḷng chàng nóng như lửa chất, không thể ngồi nhà cho yên. Đội khăn, mặc áo chỉnh tề, chàng lên xin phép cụ Nghè đi thăm anh em. Ra khỏi cửa, chàng vờ ṿng quanh vài phố, rồi xăm xăm lên thẳng trên đường Cổ Ngư và lần lần tiến đến trước nhà Xuân Hương, ư chàng chỉ muốn thấy mặt nàng một chút mới dịu được cơn sốt ruột. May sao lúc đó, nàng vừa ngó cửa trông ra, chí nguyện của chàng đă thỏa, chàng liền giả cách đi thẳng lên phía Yên Phụ, nhưng, vừa đi, chốc chốc chàng vừa quay cổ trông lại, h́nh như muốn đi mà không thể dứt t́nh đi thoát. Thấy thái độ của chàng như vậy. Xuân Hương cũng lấy làm ngạc nhiên, nàng không thể nào đoán ra tâm lư của chàng lúc ấy: "Hôm nọ ta đă chế giễu hắn một cách đê nhục, và chính hắn cũng toan gây sự phá phách nhà ta, th́ không lẽ nào hắn lại quyến luyến ta nữa. Mà nếu hắn không có ư muốn quyến luyến, th́ sao hắn lại thơ thẩn dạo quanh ở trước nhà ta, đôi mắt lấm lét giống như chỉ muốn nh́n ta mà không dám nh́n ra mặt?". Thế rồi nàng thử để ư xem chàng đến đó để làm ǵ. Quanh đi quanh lại ở đường Cổ Ngư độ vài ba lượt, chừng như chàng cũng tự lấy làm ngượng, lại lẽo đẽo đi về con đường Cửa Bắc. Nàng cho là chàng có hẹn người nào đến đấy, nhân thể đi qua, gặp ḿnh th́ nh́n ngó chơi, không phải là có ư ǵ với ḿnh. Không nghĩ ǵ đến chàng nữa, nàng sai con Nụ xuống chợ mua ít cam, quệt và vài chục bánh cốm để nàng sang chơi Kinh Bắc làm quà. Quê chồng d́ nàng ở đấy. Từ khi mẹ nàng c̣n sống, bà d́ vẫn luôn luôn sang chơi nhà nàng ở phường Khán Xuân. Đối với nàng, bà ấy rất là thương yêu quí mến, thường thường khuyên nàng nên lấy người chồng học tṛ, để có một ngày hưởng cái hạnh phúc "vơng anh đi trước, vơng nàng đi sao". Lúc nàng bị ghép vào làm vợ lẽ lăo quyền Chưởng Vệ, bà ta vẫn không bằng ḷng, nhưng v́ không có quyền ǵ với nàng, cho nên bà ta phá ngang không nổi. Từ đó, bà ấy cũng không hay sang nhà nàng như trước. Nàng vẫn định bụng sang thăm bà d́, để nói những chuyện tâm sự, nhưng mấy lần sắp đi lại mắc việc khác phải thôi. Hôm ấy gặp ngày giỗ ông chồng bà ấy, nàng mới quả quyết đi, song trước là lễ giỗ, sau nữa thăm d́, thăm em luôn thể. Nàng sắp sửa quần áo xong rồi, đợi độ một lúc, con Nụ đi mua các thứ đồ vật vừa về. Bỏ hết các thứ vào đôi tay nải, nàng dặn con Nụ ở nhà coi nhà, rồi nàng lơng thơng lồng đồ vào đ̣n gánh, gánh đi. Coi dáng điệu nàng lúc ấy, không ai bảo nàng là người biết chữ. Bởi v́ những người biết chữ, phần nhiều là con nhà quan, người ta chỉ quen ưỡn ẹo với đôi dép cong, chưa khi nào để đ̣n gánh lên vai! Nhưng mà những người quen biết, thấy nàng chịu khó như vậy, người ta lại càng kính phục. Sang bến Lâm Do, nàng cuốc một mạch th́ tới ngă ba Cu Hạc. Một bọn phu cáng ở đó đón khách, họ kèo nài mời nàng lên cáng đi cho đỡ mệt. Bấy giờ chân nàng đă thấy hơi mỏi, nàng bèn trả họ hai bốn đồng kẽm, thuê họ cáng ḿnh từ Cổ Hạc đến phố Chùa Răn. Kể ra đoạn đường ấy chẳng qua chỉ độ một dặm, đối với con đường từ Hà Nội đến Kinh Bắc, một dặm đường có thấm vào đâu. Nàng phải đi cáng, một là cũng muốn nghỉ chân giây lát, hai nữa thử xem cái thú đi cáng thế nào, v́ từ thuở nhỏ đến giờ, nàng chưa đi cáng bao giờ. Ngồi trên cáng, nàng tự thấy ḿnh gần giống con vật: chỉ có loài vật, mới phải để cho người ta khiêng vác, chứ loài người trời đă sinh cho đôi chân để đi, không đau, không ốm, sao lại bắt tội kẻ khác vận tải. Lẩm bẩm nàng trách thầm vua Quang Trung, nàng cho ông ấy vẽ ra cái cáng, khiến cho những kẻ giàu sang bây giờ đều muốn người ta khiêng vác như loài vật cả. Rồi nàng lại nghĩ: "Nhưng mà ta trách vua Quang Trung có lẽ cũng lầm, chẳng qua những người giàu sang muốn bắt kẻ khác khiêng vác, ấy là tại họ lười biếng. Chứ ông vua kia có tội ǵ. Trong lúc quân tàu đánh chiếm Thăng Long, tướng sĩ đều thua chạy hết, vua Quang Trung ở thành Phú Xuân, tiếp được tin báo, muốn gấp đường kéo quân ra thẳng Bắc Hà, cho kịp đánh giặc trong dịp nguyên đán. Bởi v́ vua ấy biết tính người Tàu hễ cứ đến tết th́ phải ăn uống no say, không lo ǵ đến trận mạc, đánh họ lúc ấy, dễ phá được họ hơn là lúc khác. Nhưng cái ngày khởi quân lên đường, chỉ cách mồng một tháng giêng chừng mười bữa nữa. Trong mười bữa ấy quân sĩ c̣n phải ăn ngủ, làm thế nào mà đi cho tới Bắc Thành, vua Quang trung mới nghĩ ra lối đi cáng bắt quân thay phiên cáng nhau, phiên này mỏi mệt, th́ cho lên nằm cáng mà ngủ, để cho phiên khác cáng đi. Thành ra quân đi suốt đêm, người nào cũng được ngủ nghê, nghỉ ngơi, không ai bị mệt nhọc quá. Nhờ vậy khi đến Thăng Long, chỉ đánh một trận th́ phá được tan quân Tàu, chém được Sầm Nghi Đống và đuổi được Tôn Sĩ Nghị. Như vậy vua Quang Trung cũng là một người thông minh, mới sáng chế được cái lối "người tải người" ấy. Nhưng kiểu "đi" đó dùng riêng về việc trẩy quân th́ phải, chứ đến việc khác, những việc không cần kíp quá như việc đánh giặc, th́ đă có xe, có ngựa can ǵ phải nằm sóng sượt ra đó để cho kẻ khác khiêng đi. Nghĩ vậy, nàng bèn bảo đỗ cáng lại, trả tiền cho hai anh phu cáng, rồi nàng lẽo đẽo đi bộ. Một lát, đến phố chùa Răn. Từ Hà Nội lên Kinh Bắc, tới đó là được nửa đường, vừa đúng một "cung", những người gánh vác trên đường thiên lư đều phải nghỉ lại ở đó để ăn uống. V́ vậy, phố ấy tuy không phải là nơi kẻ chợ, nhưng cũng có đủ hàng cơm, quán rượu, quang cảnh cũng hơi sầm uất. Bấy giờ trời đă gần trưa, nàng vào hàng nước nghỉ tạm giây lát. Th́nh ĺnh trông ra trước mắt, thấy có khu rừng cây cối rườm rà. Sực nhớ chỗ đó là lăng nhà Lư! thuở xưa họ Lư trị v́, các vua tạ thế đều đưa về táng ở đó, nàng toan rẽ vào coi xem phong cảnh có ǵ lạ không. Nhưng nh́n mặt trời đă sắp đứng bóng, nàng sợ rong chơi lan man, hoặc giả đến tối không tới Kinh Bắc, nên lại cất gánh lên đường, dành sự ngoạn cảnh đến chuyến trở về. Lên khỏi phố Viếng; chợt thấy đám người xúm lại giữa đường đông như một đám tḥ ḷ, tiếng cười tiếng nói tiếng reo. Tiếng vỗ tay vang một góc trời. Lấy làm lạ, nàng bèn vào trong cái quán cạnh đường vừa để nghỉ chân vừa để hỏi xem đám đông kia là đám ǵ thế. Bước đến cửa quán nàng lại toan lùi trở ra, v́ có một bọn học tṛ và một đoàn khăn gói chiếm hết các ghế. Nhà hàng chèo kéo cố mời nàng lại. Bọn học tṛ kia chừng cũng biết ư, liền ngồi dẹp vào một bên, nhường chỗ cho nàng. Nàng vừa ghé ngồi vào ghế, bỗng ở đằng xa có người bưng đầu chạy lại, vừa chạy vừa kêu. Th́ ra sư ông ở Quán Sứ, sang chơi chùa Dền trở về, vô tính qua đường, thấy một lũ trẻ chăn trâu đương phá tổ ong, ông ta dừng chân đứng xem, chẳng may con ong vỡ tổ bay ra, đốt ngay trán, đau quá, ông ta phải ôm đầu chạy đến quán ấy t́m thuốc. Thấy nàng ông liền xuưt xoa hỏi: - Cô đi đâu lại sang bên này? Có vôi cho tôi một miếng. - Ông xin vôi làm ǵ? - Tôi bôi vào chỗ ong đốt. Lũ trẻ trời đánh, chúng phá tổ ong giữa đường, làm cho ong đốt ngay vào đầu tôi! Vôi của nhà hàng thiếu ǵ, sao ông lại xin của tôi? Ông sư ngỏn ngoẻn: - Muốn xin vôi của cô mới hay, vôi của bà hàng e rằng không hay. Thấy cái thái độ ỡm ờ của kẻ tu hành, nàng có ư ghét liền đáp: - Tôi không có vôi. Nhưng tôi có biết mấy câu thần chú, nếu viết vào giấy, rồi đem đốt đi, lấy than bôi vào những chỗ rắn cắn, hay rết đốt, ong đốt th́ khỏi tức th́. - Vậy cô làm phúc viết cho tôi. - Không có giấy bút. Vẫn hai tay bưng đầu, ông sư quay lại hỏi bọn học tṛ: - Các thầy có đem giấy mực trong gói, làm ơn hăy cho tôi mượn. Cố nhiên khăn gói của những học tṛ đi trọ, phải có giấy bút ở trong, một người trong bọn liền lấy cho mượn. Mài mực, tẩm bút, nàng liền viết thảo vài ḍng, đưa cho ông sư: - Sư ông đọc đi ba lượt, rồi xem đốt để mà bôi. Ông sư trông vào mảnh giấy, không thể nhận được chữ nào, v́ chữ nàng viết thảo quá. Ngoảnh lại đằng sau, ông sư sẽ nói với người học tṛ: - Mắt tôi lóa lắm, không có kính không thể trông ra chữ ǵ, ông tinh mắt hăy đọc giúp tôi một lượt để tôi đọc theo. Cầm mảnh giấy, người học tṛ coi qua một lượt, rối nh́n mặt Xuân Hương một cách ngạc nhiên, người ấy vừa cười vừa ngâm: - Nào nón tu nữ, nào mũ thâm Đi đâu chẳng đội để ong châm Đầu sư há phải... Đến đó, người ấy cười ngặt cười nghẽo, giây lát mới lại đọc tiếp: - Đầu sư há phải . . . đầu bà cốt? Bá ngọ( tiếng chửi của nhà chùa. ) Con ong bé cái lầm. Cả bọn học tṛ cùng cười ầm lên. Ông sư phát cáu, vung tục vung nhả một hồi, rồi rút lui. Những người học tṛ khi ấy mới biết nàng là bực tài nữ, một người muốn bắt làm quen, lễ phép hỏi: - Thưa cô, quí quán ở đâu ta? - Tôi ở Hà Nội. - A! có phải cô là Hồ Xuân Hương? - Phải! Mấy người ngơ ngác nh́n nhau, ra ư muốn nói dài ḍng nhưng lại rụt rè không dám. Nàng cũng im lặng cởi giây lưng bao, lấy tiền trả bà hàng nước, rồi đứng dậy đi. Mặt trời tà tà, nàng tới Kinh Bắc. Bấy giờ trong nhà bà d́ khách khứa đă văn. Thấy nàng, bà ấy và cả mấy người con gái, ai nấy tay bắt mặt mừng. Trách nàng đă định sang chơi, sao không sang từ chiều hôm qua. Nàng phải thú thật hôm qua khuấy quên, sáng nay mới nhớ ngày nay kỵ nhật ông chú. Sau khi nàng đặt đồ lễ lên giường thờ làm lễ, bà d́ bảo nàng vào nghỉ trong buồng học của mấy đứa em gái. Bà ấy không có con trai, chỉ có ba người con gái, hai người đă lớn, trước có đi học, nhưng từ đầu năm đến giờ, đă phải thôi học để tập nghề buôn, c̣n một người nhỏ đương học thầy đồ ở nhà bên cạnh. Giở hết các sách của bọn em gái ra xem, nàng thấy dấu chữ thầy đồ xệch xoạc như vết gà bới, mỉm cười, nàng hỏi: - Thầy đồ vẫn dạy các em tên gọi là ǵ? - Chúng em không biết tên thật ông ấy, chỉ thấy gọi là thầy đồ Nghệ, v́ ông ta là người xứ Nghệ. - Năm nay ông ta đă bao nhiêu tuổi? - Vào khoảng bốn mươi. - Ông ta có được đông người đến học lắm không? - Được hơn mười người tất cả. - Có ai lớn không? - Chỉ có những người độ bằng chúng em hay lớn hơn một ít. - Ông ta có dữ đ̣n không? - Trước kia ông ấy cũng dữ đ̣n lắm, sai một tí là đánh liền, sau v́ học tṛ đau quá, chúng nó bỏ đi học thầy khác, bây giờ ông ta không dám đánh dữ như trước. . |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:12 AM Post #16 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Trong nhà, bà con thân thích đến chơi rất đông, người này ra, người khác vào, ai nấy chuyện tṛ vui vẻ, rút lại, họ đều kết bằng một câu: "cậu phải cố lấy tiếng ,"dạ" cửa trường, cho bỏ công mười năm đèn sách". Chiều đến, khách khứa đă văn, chàng dặn thằng nhỏ: "hễ có ai hỏi, phải nói dối là cậu tôi đi vắng." Rồi chàng vào pḥng đóng cửa nằm nghỉ. Cụ Nghè truyền lệnh hết thảy người nhà đầy tớ, không được lên đến nhà học, để cho cậu được ngủ yên giấc. Gần nửa đêm, chàng ngủ đẫy mắt trở dậy. Lều chiếu, yên, chơng, giấy, bút, dùi, mực, và tất cả đồ ăn, thức dùng trong việc vào trường, người nhà đă sắp sửa sẵn sàng. Cụ Nghè bắt chúng phải lục soát lại vài ba lần nữa, xem có thiếu sót cái ǵ hay không. Cuối canh ba, sau khi Như Bích đă ăn tạm vài ba lưng, cụ Nghè sai bọn gia nhân đứa đốt đuốc, đứa mang xách các thứ đồ đạc tiễn chàng xuống đến cổng trường. Học tṛ đến trường đă đông. Quang cảnh cửa trường đêm nay đại khái cũng như đêm hôm vào kỳ đệ nhất, khác một điều là mấy cây đ́nh liệu lần này không sáng bằng mấy cây đ́nh liệu lần trước, bởi v́ đêm nay có trăng, ánh trăng lấn bớt sức sáng của ánh lửa. Kỳ này học tṛ bị thải rất nhiều, số được vào thi chỉ bằng một phần kỳ trước. cho nên công việc vào trường cũng chóng. chừng nửa giờ dần, thí sinh các vi đă vào hết cả. Cửa trường đóng lại kín mít, riêng một cửa trước nhà thập đạo c̣n ngỏ, để cho các quan ra vào. Cuối giờ dần, học tṛ ai nấy đóng lều đă xong, trên cḥi canh nổi một hồi trống thật dài, rồi viên giám trường đề điệu và ba viên thuộc hạ, mỗi người đi xuống mỗi vi đem giấy đầu bài dán vào tấm bảng phên nứa. Vi nào vi ấy thí sinh tấp nập đến xem, dưới bảng, người đứng ṿng trong ṿng ngoài. Kỳ này chỉ có hai bài tứ lục. Một bài biểu và một bài chiếu, cho nên việc chép đầu bài rất mau, có người chỉ đứng nh́n qua rồi về lều, chứ không phải viết. May cho Như Bích, cả hai bài cụ Nghè đều đă ra cho học tṛ làm rồi. Mừng quá, chàng mở tráp lấy các đồ dùng để viết. Giở đến hộp mực th́ ra nước đă cạn khô. Lớp bông mực lên meo trắng xóa. Phát cáu, chàng chửi thẳng người nhà một trận kịch liệt về tội không chịu sắp sửa cẩn thận cho ḿnh. Tuy rằng nó không có mặt ở đây. Rồi chàng h́ hục rót nước mài mực đổ vào hộp mực. Thử đi, thử lại mấy lần, thấy mực trong hộp vừa viết. Chàng mới nhẩm lại bài cũ, lấy giấy nháp ra một lượt đê trông vào đó mà viết cho khỏi sai lầm. Bài chiếu chàng có th́ nhớ cả nhưng đến bài biểu th́ bỗng quên mất một đoạn lại nhằm vào đoạn của chàng làm hỏng, cụ Nghè đă sửa lại cho. Nghĩ măi không ra đoạn ấy có những câu ǵ, chàng phải viết một đoạn khác thay thế vào. Ngẫm đi ngẫm lại, chàng thấy biếu cũng như chiếu, lời văn trôi chảy, nhiều chỗ rất là đắc ư; bây giờ chàng mới giở quyển ra viết. Nắn nót từng li từng tí, tô từng cái mác, rạm từng cái móc, chàng cố làm cho chữ thật đẹp. Viết được một trang, đưa mắt ngó qua các lều chung quanh. H́nh như mấy người bạn chàng hăy c̣n hí hoáy nháp nháp, xóa xóa. Chưa ai viết được chữ nào. Gặp may thế này. "Khoá này thế nào ta cũng đậu" nghĩ vậy chàng lại quay đầu vào viết; viết đến gần dấu "giáp phùng" nh́n thấy màu son đỏ chói, chàng sực nhớ ra ḿnh đă quên không đi lấy dấu" Nhật trung" - Nhật trung là cái dấu nhỏ của quan truờng đóng vào quyển khi thí sinh đang viết văn tại để chứng thực quyển ấy được viết ở trong trường. Dấu ấy cốt để pḥng bị những kẻ tư thông với quan trường, biết trước đầu bài, viết văn sẵn từ nhà rồi đem vào trường mà nộp. Thí sinh làm văn khi viết đến ḍng thứ ba th́ phải để đó mà đi lấy dấu nhật trung. Lúc viết tiếp th́ phải cách dấu lại chứ không được viết đè lên. Nếu viết đè lên là phạm trường quy, văn hay đến đâu cũng hỏng. Luống cuống chàng vội bỏ quyển viết dở, lấy giấy đóng vội quyển khác. Giấy gập rồi, lề xé rồi, lúc t́m cái đục giấy, th́ lại không thấy. Cái đó mới nguy hiểm lấy ǵ làm dùi cho thủng giấy mà xâu giấy lề? Chàng lại chửi bới thằng người nhà hồi nữa, sao lúc đêm qua, lục soát mấy lần, thiếu cái dùi vở mà nó không biết. Quyển không có, c̣n thi với cử ǵ nữa, chàng đă tuyệt vọng, toan tháo lều giả cách đau bụng đi ra. Người bạn của chàng đóng ở gần đó, có ư thương hại, lừa lúc ông ngự sử và lính trên cḥi không ngó đến đám lều ấy, người ấy liền ném trộm cái dùi sang bên lều chàng cho mượn. Sung sướng và cảm ơn bạn, chàng gập ngang gập dọc một tờ giấy trắng làm mẫu chia ra năm khoảng. dùi bốn lỗ lề thật đều và thật ngay, đóng xong quyển mới, chàng lại thu xếp các đồ lặt vặt vào tráp lấy chỗ ngồi viết. Khi nhắc cái tráp lên, th́ thấy cái dùi của ḿnh vẫn nằm hềnh hệch ở mặt chơng, chàng cho là sự quái gở, bụng bảo dạ rằng: "Có lẽ u hồn kẻ nào v́ nhà ḿnh mà phải chết oan, bây giờ nó theo ḿnh vào trường, che lấp mắt ḿnh đây chăng? Nếu không, làm sao cái dùi để đây mà từ năy đến giờ, ḿnh t́m mấy lượt không thấy . Hay là trong lúc loạn lạc, tiên tổ nhà ḿnh đă làm ǵ thất đức, bây giờ ḿnh phải chịu tội? " Dù vậy đi nữa, th́ cũng phải chịu, chứ biết sao được". Thế rồi, chàng lại đặt quyển lên mặt tráp, càn thận để ba chữ tên thật lớn, viết xong niên canh, quán chỉ. Chàng viết đến ḍng "cung khai tam đại". Soát lại một lượt các tên tằng, tổ, phụ và phủ, huyện, trấn, đều không sai lầm nét nào. Chàng bèn đem vào nhà thập đạo lấy dấu giáp phùng, được rồi đem về lều, chàng lật sang trang sau, viết lại đầu đề, rồi viết đến bài. Lần này chàng nhớ như chôn vào ruột, viết đúng được hai ḍng rưỡi, th́ chàng đứng dậy, lại đem quyển đưa vào trong nhà thập đạo để cho lại pḥng đóng dấu Nhật Trung. Ở đấy thí sinh đă đến lấy dấu tấp nập, người lại pḥng lần lượt cầm dấu đóng vào những quyển đưa trước, chưa đóng đến quyển của chàng. Đứng ngoài hàng rào chờ đợi, ruột chàng mỗi lúc mỗi thêm bồn chồn. "Tưởng là ḿnh gặp bài cũ, thế nào cũng viết dược nhanh hơn người, té ra thiên hạ lại c̣n nhiều kẻ vẫn nhanh hơn ḿnh, thế này th́ sự thi cử của ḿnh khoa này cũng không lấy ǵ làm chắc cho lắm". Chàng đương phân vân nghĩ ngợi, bỗng thấy có tiếng gọi: "Ai là Đặng Như Bích?", chàng vội trả lời: "Tôi đây!". Người lại pḥng đă đóng vào quyển của chàng, sai lính cầm ra cạnh rào và đưa cho chàng. Đón quyển đem về lều, chàng lại cẩn thận nh́n từng chữ trong bản giấy nháp mà viết. Quanh dấu Nhật Trung, không bị xóa, sót, sửa chữa chữ nào. Chàng viết luôn hết trang đầu, rồi viết sang trang thứ hai. Hết nửa trang ấy, th́nh ĺnh chàng lại nh́n lại trang trên. Một sự không ngờ làm cho chàng bỗng giật ḿnh tưởng như sét đánh. Là ở trên dấu giáp phùng, chàng đă viết sót một chữ. Giáp phùng là cái dấu son của gian trường đóng vào giữa thồ giáp giới của trang nh́ và trang nhất, cốt giữ cho thí sinh khỏi đội giấy thứ hai trong quyển, đó cũng là một cách pḥng gian. Dấu ấn đóng ở trong quyển từ lúc thí sinh mới nộp quyển trắng cho quan trường. Không phải đến khi vào trường làm văn mới đóng. Theo đúng trường quy bốn bên dấu giáp phùng, cũng như bốn bên dấu Nhật trung, khi viết văn không được xoá, sót móc, chữa chữ nào, v́ sợ học tṛ thông với quan trường, cố ư dập xóa, bỏ sót, hoặc sửa chữa vài chữ ở chung quanh dấu đế đánh dấu cho quan trường biết quyển ấy là quyển của ḿnh. Bởi vậy, quyển chàng bỏ sót một chữ trên dấu giáp phùng cũng là trái với trường qui. Chàng vừa ngắm nghía quyển văn, vừa cuống quít lo sợ, nếu bỏ không thêm chữ khác vào cạnh, th́ câu văn không có nghĩa ǵ, mà nếu viết thêm chữ nữa vào đó, tức là không đúng trường qui, đằng nào cũng là hỏng cả. "Đích là có cái oan hồn theo ta vào đây ám ảnh cho ta lẩn quẩn; không phải tại ta sơ suất. Mọi ngày làm văn nhật khắc, ta có bị phạm trường qui bao giờ? Thôi, bây giờ cũng chưa muộn lắm, đành phải cánh quyển lần nữa, may ra c̣n có hy vọng, chứ để như vậy, th́ không c̣n mong mỏi ǵ". Chàng lại mở tráp lấy giấy đóng một quyển khác. Tên, họ, niên canh, quán chỉ, cung khai tam đại, đều đề xong cả, chàng lại đưa vào trong nhà thập đạo xin dấu giáp phùng. Bấy giờ trời đă gần trưa, học tṛ lấy dấu Nhật Trung đă đông, họ quây kín bức rào cửa nhà thập đạo, thấy vậy, chàng càng sốt ruột. May thay khi ẩy người xin cánh quyển cũng ít, nên quyển chàng đưa vào, được đóng dấu ngay không phải chờ đợi ǵ cả. Chàng luồn phóng viết hết một ḍng đầu đề và độ hơn hai ḍng bài, lại phải đem quyển đến nhà thập đạo xin dấu Nhật Trung lần nữa. Thế là trước sau, chàng phải đến nhà thập đạo năm lần tất cả. Mấy người lại trong pḥng đă nhớ mặt chàng, khi chèn trao quyển lại cho chàng họ nh́n mặt quyển và mỉm cười chế giễu: - Đặng tiên sinh, lần này th́ xin tiên sinh đừng cánh quyển nữa nhé, chúng tôi không sợ đóng dấu vất vả, chỉ sợ tiên sinh đi lại nhiều lần như thế, không c̣n th́ giờ nghĩ văn. Tiên sinh nên biết mùa đông ngày ngắn, chớp mắt đă sắp tối rồi. Chàng không trả lời, im lặng đón quyển về lều. Chuyến này chàng phải theo đúng bản nháp viết lấy hai tờ cực kỳ tinh tế, đọc đi đọc lại, không thấy lầm sót chữ nào, chàng mới lồng hai tờ ấy vào tờ thứ nhất và tờ thứ hai trong quyển dám phóng, rồi cứ theo phóng mà viết. Suốt hai tờ đầu quyển, không bị can phạm ǵ cả, chàng như đă trút được nửa gánh nặng, và từ trang thứ ba trở đi, không có dấu của quan trường nếu sai lầm. Cứ việc tháo tờ ấy ra đóng tờ khác vào, không phải đi cánh quyển nữa. Mặt trời tà tà, chàng đă viết xong bài bị thiêú và hơn một nửa bài biểu, chỉ c̣n hơn một trang nữa th́ yên, bụng đă hơi vững, chàng bèn đọc từ trên đầu trở xuống, xem có sai suyển ǵ không. Th́ ra đoạn giữa, bài biểu, hai vế cách cú, chàng bỏ sót mỗi vế một câu bốn chữ. Tuy rằng thiếu mấy chữ đó đoạn văn ấy cũng vẫn có nghĩa nhưng v́ mỗi bên sót mất một câu, th́ điệu bằng, trắc sai đi thành ra không đúng niêm luật của lối văn "tứ lục", chàng toan sửa thêm cả hai câu đó vào bên cạnh ḍng. Nhưng đếm từ đầu quyển trở xuống, vừa xóa vừa chữa, đă tám chữ rồi. Theo luật trường qui tất cả trong quyển, xóa, sót, móc, chữa, không được quá số mười chữ, nếu lại thêm tám chữ nữa, th́ thành đến mười sáu chữ, cũng lại là phạm trường qui. Chàng đành tháo lề, bỏ tờ giấy đă viết hỏng kia và đóng thêm một tờ khác vào, rồi lại bắt đầu viết lại. Bỗng ở trước lều, có người ngồi thụp xuống chỗ chân chơng của chàng và hỏi: - Thưa ông, chữ "tư ba phẩy" thế nào, ông làm ơn viết cho tôi coi! Chàng đương bực ḿnh, lại bị có người quấy rối, không thể nào mà nín nhịn được, cau có chàng gắt: - Chữ "tư ba phẩy" không biết th́ c̣n thi cử ǵ nữa ? Người kia mềm mại trả lời: - Thưa ông, v́ lúc làm văn vội quá, trí tôi luẩn quẩn, quên mất, nghĩ măi không ra. Xin ông làm ơn bảo cho. Muốn để hắn đi cho thoát, chàng liền viết một chữ "tư" vào gan bàn tay và ch́a ra cho hắn xem. Lắc đầu hắn nói: - Thưa ông, đây là chữ "tư" là "sửa", không phải chữ "tư ba phẩy. ." Chàng lấy mảnh giấy viết chữ "tư" khác và chỉ cho hắn. Hắn vẫn kè nhè: - Thưa ông, không phải chữ "tư ba phẩy", đây là chữ "tư" là "nêm". Sẵn bút, chàng viết chữ nữa ở cạnh mảnh giấy cho hắn, hắn cũng lắc đầu: - Đó là chữ "tư" là "râư", tôi đă nhớ rồi, nhưng tôi muốn hỏi chữ "tư ba phẩy." Tức quá, chàng lại gắt: - Chữ "tư ba phẩy" nghĩa là ǵ chứ! Cứ nói chữ "tư ba phẩy" th́ ai biết là chữ chó nào. Mỉm cười người ấy đứng dậy: - Thôi ông không biết, để tôi đi hỏi người khác, làm ǵ ông phải gắt gỏng! Rồi hắn liền quay lưng đi. Chàng lại cặm cụi quay vào quyển văn. Mặt trận gió bấc thoảng qua, trong lều có mùi thôi thối. Ngạc nhiên, chàng ngoảnh lại nh́n, ở dưới cuốn chơng, chính chỗ người khách mới ngồi thấy có đống bă ván chương sù sụ. Té ra ông học tṛ ấy mót đại tiện, v́ ở quanh lều đông quá, không có chỗ nào mà đi, hắn mới chạy đến lều chàng, vờ hỏi chữ "tư ba phẩy", để có thể ngồi vào cuối chơng mà tháo cái bă văn chương ra đó. Nhưng mà Như Bích không nghĩ như vậy chàng nhất định đoán là oan hồn báo oán, đem uế vật vào đó để quấy nhiễu chàng. Sực nhớ trong tráp có ít vàng giấy chưa hóa, chàng vội vặn cái mồi giấy sang lều bên cạnh xin lửa, vừa hóa vàng, chàng vừa lẩm nhẩm khấn thầm: "Tôi là Đặng Như Bích ở phường Đồng Xuân, trấn Hà Nội, cắn rơm cắn cỏ lạy người. Nếu phải đời trước nhà tôi đă có oan trái với người, xin người hăy cứ tha tội cho tôi, nay mai về nhà, tôi sẽ lập đàn giải oan, nhờ thầy cúng lễ, đưa người về phương Tây chầu Phật. Lạy người vạn bái, lạy người vạn bái... " Khấn xong, vàng vừa cháy hết, chàng lại quay vào viết văn. Trống cái trên cḥi thánh thót điểm những tiếng oai vệ, học tṛ nhao nhao đến nhà thập đạo nộp quyển và vác lều chơng theo đường cửa trước đi ra, quyển chàng hăy c̣n ngót nửa trang nữa mới hết. Bấy giờ ruột chàng rối như canh hẹ, trống ngực hồi hộp họa lại tiếng trống thu quyển trên cḥi. Viết lại xóa, xé tờ ấy, đóng tờ khác, cái tờ cuối quyển chàng phải bỏ đi đến hai, ba lần. Trống cái trên cḥi điểm càng mau, bụng chàng càng sôi sùng sục, các lều chung quanh đều rỡ đi điểm qua những chữ xóa, sót, móc, chửa, chứa ở cuối quyển, viết xong chỗ "cộng quyển nội" th́ trời vừa tối. Bỏ cả lều, chơng, chiếu, tráp, chàng lật đật vớ quyển đi nộp. Quyển chàng vừa đưa cho người lại pḥng, tiếng trống cuối cùng vừa dứt, chậm một phút nữa, th́ chàng sẽ bị ngoại hàm. Ra khỏi trường, vừa đi chàng vừa nghĩ lại những sự lẩn quẩn xảy ra cho chàng ở trường, khiến chàng thơ thẩn như bị ma đuổi, mắt trông xuống đất mà vẫn không nh́n thấy ǵ. Đến phường Đồng Lạc, t́nh cờ chàng ngẩng đầu lên, gặp Hồ Xuân Hương ở phường Đồng Xuân đi lại. Chừng như cũng thẹn với nàng, chàng vội vàng nh́n đi đường khác, nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc mắt trông trộm, xem nàng có để ư đến ḿnh hay không. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:16 AM Post #17 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
May sao lúc ấy ông Chiêu đi chơi vừa về. Trông thấy nàng, ông Chiêu Bẩy ngồi ở trong nhà chào ra: - Cô Hồ Xuân Hương! Mời cô vào chơi trong nhà. Theo lời mời, nàng cung kính đi vào pḥng khách. Giữ lễ, nàng toan ngồi vào tràng kỷ bên cạnh, ông Chiêu Bảy không nghe, bảo ngồi lên chiếc ghế đối mặt với ḿnh. Rồi ông Chiêu Bảy vừa cười vừa hỏi: - Cô đến t́m lăo, chắc v́ những người học tṛ gàn dở đang rủ nhau sinh sự với cô. - Thưa vâng! Tôi mới nghe tin việc đó. Không biết thật hư thế nào. Nếu họ làm thật, th́ rất nguy hiểm cho tôi, trong đám phụ lăo ngày nay. Tôi nghĩ chỉ có cụ hăy c̣n lượng thứ cho tôi, vậy tôi đến cầu cứu với cụ. - Ai bảo cô cứ hay trêu người ta. Bây giờ người ta trêu già, cô c̣n oán trách gi nữa? Xuân Hương sầm mặt và nói bằng giọng nghiêm nghị? - Thật ra như tôi có trêu ai đâu. Nhưng tôi không chịu nổi những thứ đạo đức giả dối. Những cái lễ giáo bó buộc, tôi phả́ sống bằng tư tưởng tự nhiên của trời cho tôi, có động chạm ǵ đến ai đâu, vậy mà người ta không muốn khoan bước, đua nhau phao tôi tiếng này tiếng khác. Nín không được th́ tôi phải kêu. C̣n như việc đề thơ ở chùa Trấn Quốc, cố nhiên là tôi khinh họ. Nhưng mà những hạng dốt nát, tục tằn không có học thức ǵ cả, thế mà họ cũng lên mặt cử nhân, tài tử, th́ ai c̣n tha thứ được. Ông Chiêu vội vàng ngắt lời: - Không, lăo nói đùa đấy thôi. Những thứ đạo đức giả dối, lễ giáo bó buộc, chính lăo đây cũng không chịu nổi huống chi một người như cô. Cô khinh họ. Cô chế họ, thật là phải lắm. Hôm nọ cái bài tự t́nh của cô. Chính lăo cho đọc để trêu tiết cụ Nghè Hoàng đấy chứ ai. Không ngờ v́ đọc bài ấy, bây giờ lại xảy ra sự lôi thôi cho cô. Vậy th́ cô có cách ngăn cản được việc ấy chửa? - Thưa cụ chưa, v́ thế tôi phải đến nói với cụ. - Cô với quan Tổng đốc Hà Nội có phải họ hàng ǵ không? - Không có họ, nhưng ông ấy là bạn của cha tôi ngày xưa. - Ông ấy có biết cô? - Thưa có? Hôm nọ, tôi ăn mặc giả trai vào trường, chẳng may bại lộ, bị bắt, chính ông ấy gỡ cho tôi ra. - Thế th́ được. Bây giờ cô cứ đến nói với ngài, nhờ ngài phái một đạo lính đến phường Khán Xuân canh giữ, những người học tṛ thấy có lính tráng ở đấy. Tự nhiên không dám sinh sự với cô! Xuân Hương lắc đầu: - Thưa cụ, tôi những muốn như thế. Cái người cứ ỷ lại vào thanh thế hoặc di trạch của cha ông, đó là người rất hèn. Phụng chi mỗi việc đều cậy đến uy quyền của các quan th́ c̣n ra thế nào nữa. Nếu cụ không có cách ǵ khác giúp cho, th́ thà để cho họ đến phá nhà. Tôi cũng cam ḷng, chứ vào nói với quan Tổng đốc th́ tôi không nói. Ông Chiều Bảy ra ư khen ngợi: - Không ngờ cô lại kiêu ngạo tự phụ đến thế. Ngẫm nghĩ một lúc, ông Chiêu Bảy lại hỏi: - Bài thơ của cậu Đặng Như Bích đề chùa Trấn Quốc cô có nhớ không? Xuân hương cũng cười sằng sặc: - Thưa cụ. Nào nó có ra hồn thơ mà nhớ! Nhưng may tôi vừa mới coi hôm qua, có lẽ cũng chưa quên, để tôi nhớ xem. Hồi lâu, nàng lại vừa cười vừa nói: - Thưa cụ. Bài thơ ấy vui c̣n nhớ cả cụ hỏi làm ǵ. - Thế nào: cô thử đọc cho lăo nghe. - Nhưng nghe loài thơ ấy chực cụ cũng không thể nhịn cười. Rồi nàng đọc như dằn từng tiếng: - Khen ai đổ đât đất dựng lên chùa Một nếp lù lù ở giữa hồ Mặt nước bóng chiều tà bảng lảng Làm sao vẫn chưa thấy chuông khua Ông Chiêu Bảy cười như muốn ngất người đi, một lúc lâu, ông ấy lắc đầu và nói: - Chết chửa, thơ với thẩn, thế mà cũng dám viết vào tường cho thiên hạ xem, con trai cụ Nghè to gan thật. Người ta chửi cho cũng có, chăng những chế giễu mà thôi. Cụ Nghê không biết khuyên con, dạy con. Lại c̣n gỡ giọng để chữa thẹn, đáng ghét. Thôi, cô cứ yên tâm mà về, lát nữa, lăo sẽ có cách giải vây cho cô. - Cảm ơn ông Chiêu - Xuân Hương từ biệt trở ra. Mặt trời lên khỏi ngọn cây, Xuân Hương mới về đến nhà. Con nụ vẫn luống cuống lo sợ. Sau khi đă hỏi qua nàng những chuyện nghe thấy ngoài đường, nó giục nàng phải kíp vào thành tanh quan tổngg đốc! Lắc đầu, nàng bảo nó đóng chặt các cửa rồi nàng lên gác, hé cứa đứng nh́n ra đường. Hàng phố h́nh như đă nhiều người nghe biết chuyện sẽ xảy ra cho nàng, những đứa trẻ con lêu lổng và những người đàn bà ṭ ṃ luôn đợi ở vệ đường, gốc cây và bờ hồ, có ư chờ xem tấn kịch của bọn văn thân sắp diễn. Nửa giờ sau, ở phía đông nam chợt có tiếng người ầm ầm. Giây lát, quả nhiên một tụi học tṛ độ vài chục người tấp nập kéo đến trước cửa nhà nàng, ai cũng như nấy khăn quấn vành dây, quần rong quết gót, dáng bộ lượt thượt như lễ sinh sắp sửa vào tế văn miếu. Mỉm cười, nàng nghĩ thầm: "lưng sức thế kia mà dọa kéo cho đổ nhà người ta, th́ phỏng kéo làm sao nổi?" Trong bọn bỗng có người gọi lớn: - Bớ Hồ Xuân Hương, mau mau ra mà chịu tội! Nàng toan mở cửa cho họ thấy mặt, th́ ở dưới đường lại có tiếng thét dữ dội, giống như tiếng Trương Phi trong tấn tuồng đại náo Trường Bản kiền". Nàng bụng bảo dạ: "Có lẽ cơn nghĩa khí của họ đương hăng, ta chưa nên ra mặt với họ vội. Hăy để cho họ thét chán đi đă". Rồi nàng lại cứ khép cửa đứng im. Dưới đường, học tṛ kéo đến mỗi lúc một đông thêm, dần dần có tới sáu, bảy chục người, những tiếng quát tháo làm bộ lại càng kịch liệt. Nàng vẫn không chịu trả lời. Một ngươi đi đầu trong bọn hăng hái đứng ra nói lớn: - Cửa ngơ đều đóng im ỉm thế này, chắc là nó v́ sợ quá nên đă bỏ nhà đi trốn? Người khác đón nói: - Chúng ta đến đây, không phải là đến bắt nó, chỉ cốt để phá nhà nó. Nó trốn mặc nó, chúng ḿnh cứ đập cửa mà vào. Cả bọn lao nhao khen phải. Hồi mấy người hung hành xông lại, nắm tay đập vào cánh cửa thành thành. Tức quá, Xuân Hương đẩy tung cửa gác, nhô đầu ra hỏi: - Các ông làm cái ǵ thế...? Trong đám đông, có tiếng sừng sộ đáp lại: - Mày láo? Dám dùng văn thơ nhảm nhí làm mất thể diện của sĩ lâm Bắc Thành, chúng tao phá tan nhà mày để trị tội ấy. Xuân Hương phá lên cười: - Tôi tưởng các ông toàn là bậc văn nhân, đă có ít nhiều học thức, có giỏi ta đem văn chương đối địch với nhau. Chứ kéo từng đàn, từng lũ đến mà phá cửa, phá nhà người ta, th́ là thủ đoạn của phường vũ phu, du côn. Khôngg phải thái độ của người quân tử! Đám người ở dưới tức th́ nổi cơn ồn ào: - À nó giỏi! Nó đă vô lễ với sĩ lâm, chúng ḿnh đến đây hỏi tội, nó không chịu lỗi, lại c̣n bảo chúng ḿnh là phường vũ phu, du côn. Anh em! chúng ta không kéo đỗ nhà nó đi c̣n chờ ǵ nữa, dắt nhau đến đây mà chịu nhục à? Tiếng nói chưa dứt, bỗng thấy đánh trát một cái, một ḥn gạch nhỏ từ trong đám đông ném lên, nhưng không trúng cửa gác, nó dộng vào bức tường gác rồi lại rơi xuống dằn vào một người ở dưới. Xuân Hương vỗ tay cười khanh khách. Làm cho những người đứng dưới càng tức, kẻ nhặt đá ném thêm. Người vào đẩy cửa ùm ùm. Giữa lúc đó, ông Chiêu Bảy ở đâu nhô ra, sấn vào đứng ở giữa đám và hỏi thật lớn: - Các anh định phá nhà của Hồ Xuân Hương đấy à? Mấy chục người đều ngẩng lên trông. Thấy ông Chiêu Bảy đạo mạo đội nón chống gậy đứng đó, ai nấy đều có ư kính trọng, năm sáu người đồng thanh trả lời. - Vâng? Chúng tôi muốn phá nhà của con đĩ , v́ nó đă dùng văn chương nhảm nhí làm nhục sĩ lâm, chúng tôi phải rửa cái thù ấy. Ông Chiêu Bảy vừa cười vừa nói: - Được? Anh em làm việc nghĩa khí, rất đáng ngợi khen. Tôi tuy tuổi già sức yếu, việc khác th́ không dám can dự, nhưng việc này tôi phải ra sức giúp đỡ anh em. - Vậy trước khi nhúng tay vào việc, tôi muốn anh em hăy cho tôi biết, kẻ thù của chúng ta đă làm nhục chúng ta bằng cách nào. Mọi người lại đồng thanh trả lời: - Thưa cụ, nó đă làm nhục sĩ lâm đến hai lần chứ không phải một. Lần trước, nó gửi bài văn chớt nhả, đến trường cụ Nghè Hoàng, và nói xỏ cụ ấy nhiều câu. Lần mới rồi, anh Đặng Như Bích đề thơ ở chùa Trấn Quốc. Nó dám đề một bài khác chế giễu anh ấy và bảo anh ấy là phường ḷi tói. Như thế, chẳng phá nhà nó đi, c̣n để làm ǵ. Ông Chiêu Bảy vẫn cười: - Cố nhiên như thế. Nếu Hồ Xuân Hương quả có làm nhục sĩ lâm, lẽ nào chúng ta lại chịu nín im. Nhưng chúng ta là kẻ đọc sách biết chữ, đứng đầu tứ dân, dù muốn trừng trị người nào, chúng ta cần phải cân nhắc cho kỹ, không nên để oan người ta. Hai việc mà anh em buộc tội cho Hồ Xuân Hương, th́ theo ư tôi việc thứ nhất oan cho nàng. Mọi người đều tỏ vẻ tức giận, sắp sửa bẻ lại, ông Chiêu Bảy liền nói lấp đi: - Trong bọn anh em ở đây, có ai dự cuộc b́nh văn ở trường cụ Nghè Hoàng hôm nọ hay không? Trong đám đông, có tiếng trả lời: - Hôm ấy, có tôi đến dự. Ông Chiêu Bảy vội quay ra nh́n, người đó là Đàm Thận Trung, một người đă có tiếng tài hoa trong bọn sĩ tử. Ông Chiêu Bẫy liền hỏi: - A bác Đàm đấy ư! Phải. Hôm đó quyển bác phê "ưu", được đọc. Bác đă dự cuộc b́nh văn hôm ấy th́ bác có thể làm chứng cho Hồ Xuân Hương. Đờm Thận Trung chưa kịp nói sao, ông Chiêu Bảy lại tiếp: - Hiện có bác Đàm làm chứng. Cái việc đem đọc bài ca tự t́nh của Hồ Xuân Hương. Không phải ở nàng. Chính là ở tôi. Người ta không ái nam mà tự nhiên bị tiếng ái nam th́ người ta phải kêu oan chứ. Suốt trong bài ấy không có câu nào xúc phạm đến cụ Nghè Hoàng, hay một người nào trong sĩ lâm, như vậy sao lại bảo là làm nhục sĩ lâm? C̣n như những tiếng chớt nhả trong bài. Nó chỉ là tiếng chớt nhả. Không thể cho là nói xấu sĩ lâm. Tôi không hiểu v́ sao mà cụ Nghè Hoàng lại ghét những tiếng chớt nhả đến thế. Sự thực ngay trong sĩ lâm chúng ta, c̣n nhiều câu văn chớt nhả bằng mười. Anh em chắc có đọc bài văn sách nôm của ông nào làm ra độ trước? "Bà văi đánh trống long tong, nhảy lên, nhảy xuống, con ong đốt...", "con gái mười bảy, mười ba, đêm nằm với mẹ chuột tha...". Đó, các bậc tiền bối chúng ta chớt nhả là vậy. Cơn giận h́nh như đă dịu, không ai phản đối câu nào. Ông Chiêu Bảy nghỉ một lát, rồi lại nói: - Chúng ḿnh có quyền làm văn bông đùa, th́ cũng cho phép người ta được bông đùa bằng văn chương, không nên quá ư nghiêm khắc. Một người học tṛ căi lại: - Chúng tôi không cấm ai bông đùa. Nhưng phải bông đùa ở chỗ khác, không được đem văn ô uế vào chỗ b́nh văn. Ông Chiêu Bảy cười khanh khách: - Cái đó là lỗi tại tôi, không phải tại Hồ Xuân Hương việc đó, bác Đàm cũng đă biết rơ, chính tôi giục ông Cống Thiều đem đọc bài ấy, anh em có muốn báo thù cho cụ Nghè Hoàng th́ xin cứ việc vào phá nhà tôi, đừng phá nhà Hồ Xuân Hương. Nhưng, tôi trộm nghĩ, bài văn ấy của Hồ Xuân Hương có nhiều câu hay và rất tức cười, nếu không ai đọc cho nghe, tất nhiên cũng có nhiều người sẽ mượn mà chép lấy để rồi ngâm trộm đọc vụng với nhau, có phải thế không? Trong đám đông nghe có tiếng cười khúc khích. Ông Chiêu Bảy vẫn dơng dạc: - Ai cũng muốn xem, ai cũng muốn biết, tôi bảo đọc lên, đó là ch́u cái ư muốn của số đông người. Vậy th́ anh em cũng không nên trách cái giọng chớt nhả của Hồ Xuân Hương! Có người nói lớn ở phía ngoài: - Vâng, chúng tôi theo lời cụ Chiêu xin miễn cho Hồ Xuân Hương cái tội thứ nhất, nhưng c̣n cái tội thứ hai quyết không thể tha. Ông Chiêu Bảy nói đón: - Phải? Một người con gái dám bảo con trai cụ Nghè là phường ḷi tói, thật là vô lễ, chúng ta phải trị cho đáng tội, để răn kẻ khác. Nhưng trước khi trị tội người ta, tôi muốn anh em hăy cho nghe qua bài thơ của cậu Đặng Như Bích cái đă? Hai ba người cùng nói một câu: - Chúng tôi không biết bài ấy thế nào. Mấy ông học tṛ cụ Nghè Đặng ngông nghênh đứng ra nó lớn: - Các ông không biết, đă có người biết. Bài ấy hiện c̣n để ở chùa Trấn Quốc, chưa biến đâu mất. Ông Chiêu Bảy vui vẻ nói: - Chắc ông đă có coi qua xin đọc cho nghe. Một người trong mấy người đó ra dáng đắc ư ngân giọng đọc bằng tiếng b́nh văn của thầy đồ xứ Nghệ: - Khen ai đổ đất. . . dựng lên ch ùa. . . Ông Chiêu Bảy mỉm cười khôi hài. Người ấy h́nh như không để ư đến, vẫn đọc một cách tự nhiên: - Một nếp lù lù . . . ở gi ữa h ồ. . . Mặt nước bóng chiều tà... bảng lảng Trong đám học tṛ đứng đó nhiều người trông nhau lắc đầu, ông đồ đệ cụ Nghè Đặng càng lên cao giọng: - Làm sao vẫn chưa thấy chuông khua Ông Chiêu Bảy hỏi lại mọi người: - Anh em nghe bài thơ ấy thế nào, có thể gọi là thơ chăng! Đàm Thận Trung lên tiếng: - Quê lắm? Nhiều chữ c̣n trẻ con quát! Năy giờ Xuân Hương đứng im trên gác mặc ông Chiêu Bảy giảng giải cho bọn học tṛ. Không dám nói xen câu nào. Bây giờ nghe bài thơ của Đặng Như Bích. Nàng không thể nhịn nổi, liền ngó cửa gác mà nói chơ ra: - Thơ thẩn như thế, tôi bảo là phường ḷi tói, c̣n oan lắm sao? Các ông lại chực hùa nhau đến phá nhà tôi ư? Ông Chiêu Bảy vội vàng ngắt lời: - Cô là con gái không nên quá dùng những giọng chua ngoa. Bác Đàm nói phải! Bài thơ của cậu Bích vừa quê lại vừa trẻ con. Không có câu nào nghe được. Như thế, người ta chế giễu cũng đáng chứ có oan đâu! Anh em nên thành tâm phục thiện, cái sự ḿnh dở, sự ḿnh phải biết là dở, th́ sự học vấn mới có ngày tấn tới. Nếu cứ kéo bè kéo đảng, cố ư che lấp cái dốt cho nhau. Ấy là làm hại nhau đó. Vậy anh em có yêu cậu Đặng Như Bích, quư trọng thể diện của sĩ lâm th́ nên nghe tôi, anh em đừng v́ một bài thơ bông đùa mà chực phá nhà cửa người ta. `Làm vậy, một là anh em sẽ mắc tù tội, hai nữa, đời sau sẽ bảo sĩ lâm bây giờ, toàn là một phường trẻ con. Thôi nghe tôi anh em hăy giải tán, để dành nghĩa khí lại đó, chờ khi có việc đáng dùng sẽ dùng! Nói chưa dứt lời, trong đám lố nhố, liền có mấy người hùa theo: - Phải lắm, cụ Chiêu dạy thế phải lắm. Chúng ta hăy để dành cái nghĩa khí lại đó, không nên đem mà dùng vào một việc trẻ con. Đi! anh em ai về nhà nấy, để sức lo việc thi cử. Rồi cả bọn ào ào kéo về, những người khác đều vui vẻ như thường, riêng có Đặng Như Bích và đám học trẻ của hai cụ Nghè th́ đều ra ư xấu hổ, và rất căm ông Chiêu Bảy! |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:17 AM Post #18 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Ba bốn hôm nay, tiếng tăm Hồ Xuân Hương ầm cả phố phường Hà Nội, nhất là các quán rượu, các hàng cơm, những chỗ có học tṛ đi thi ở trọ. Người ta nhắc lại việc nàng cải trang vào thi bị bắt và bị giam. Người ta truyền khẩu cho nhau cái bài tự t́nh của nàng đưa vào trường ông Nghè Hoàng. Người ta trách ông Quyền Chưởng Vệ Hà Nội sao lại vu cho nàng cái tiếng ái nam. Rồi người ta phê b́nh đến phẩm cách của nàng. Có người chê nàng đĩ lồng, có người bảo nàng tài t́nh, có người chê nàng đen đủi xấu xí, cũng có người khen nàng vừa đẹp, vừa gịn, làm cho trong đám học tṛ "đi thi" kẻ nào chưa biết mặt nàng, háo hức muốn đi xem mặt. Lúc ấy trời đă xế chiều. Mặt nước hồ Tây lóng lánh nhuộm vàng của ánh nắng. Xuân Hương thơ thẩn đứng dưới gốc đa trên đường Cổ Ngư mơ màng nh́n đàn chim sâm cầm nhấp nhô bơi hụp. Mặt trời chênh chếch nḥm vào đôi má đỏ hồng. Bóng mây lồng dưới đáy nước long lanh in lên đôi mắt sáng quắc. Xa xa nẻo chùa Trấn Quốc, bỗng có tiếng người cười nói khúc khích. Nàng không để ư, v́ nàng cho là bọn sư trong chùa bù khú chay với nhau. Tiếng cười nói mỗi lúc mỗi to thêm, nghe rơ ra giọng một bọn sĩ tử. Bây giờ nàng lại đoán là họ đă bàn tán chế riễu đến ḿnh. Tức th́ nàng đi lật lẽo, cũng định cḥng ghẹo chơi cho họ một mẻ. Khi nàng đi đến gần chùa Trấn Quốc, th́ một bọn độ năm, sáu người vừa lục tục kéo ra, té ra họ không biết nàng là ai. Qua trước mặt nàng, người nào người ấy hai mắt lấm lét, h́nh như muốn trông mà không dám trông. Cách một quăng xa, c̣n nghe thấy tiếng họ tṛ chuyện nổ như pháo ran, không biết họ nói những ǵ. Cao hứng, nàng lững thững dạo vào trong chùa Trấn Quốc, để xem mới rồi bọn đó làm ǵ ở đó. Trong chùa, ngoài chùa quang cảnh vẫn như hôm qua, mấy chú tiểu đồng hí húi nhổ cỏ quét sân, mấy sư ông lố nhố châu đầu trọc gật gù nói chuyện trong nhà. Th́nh ĺnh nàng nḥm lên vách đại điện, thấy có một bài tứ tuyệt mới đề, nét mực chưa ráo. Nàng để ư ngắm, th́ bài đó tả cảnh chùa trên hồ trời chiều. Coi rồi, nàng bỗng ôm bụng mà cười, các sư các tiểu đều lấy làm lạ, họ xúm lại xem, không ai biết là nàng cười ǵ. Một lúc sau, nàng cố nhịn cười, và hỏi mấy sư ông: - Mấy câu trên đây của ai viết thế? Cung kính một sư ông chắp tay đáp: - Bạch người, đó là thơ của mấy ông học tṛ vừa ở đây ra. H́nh như ở dưới cuối bài đă có ghi tên tác giả th́ phải. Nàng vội nh́n lại, th́ ra lúc năy v́ buồn cười quá nên không trông hết. Quả nhiên ở dưới cuối bài c̣n có năm chữ "Đặng Như Bích kính dề". Nàng lại mỉm cười: - Thơ là thơ tức cảnh mà cũng lạc khoản báng hai chữ "kính đề" không biết họ kính ai đây hay là kính mấy con vịt le trong hồ. Rồi nàng bảo nhà sư cho mượn bút mực, để nàng đề luôn bài khác ở cạnh. Một nhóm sư ông đứng ở đằng sau, có ư khoe ḿnh là người nhiều chữ, nàng viết câu nào họ đọc luôn câu ấy khi nàng viết hết cả bài, một người cao giọng ngâm nga: - Dắt díu nhau lên đến cửa chiền, Cũng đ̣i học nói, nói không nên. Ai về nhắn bảo phường ḷi tói Muốn sống đem vôi quét trả đền! Chờ họ ngâm xong, nàng hỏi: - Thế nào? Bài thơ của tôi mới đề có xuôi không? - Bạch người, hay lắm, người nghĩ lanh quá, thanh hơn mấy ông ban năy nhiều lắm. - Các ông ấy vào đây từ bao giờ? - Bạch người, các ông ấy vào từ buổi sáng. Ngồi chơi một lát th́ nói ngay đến chuyện làm thơ. Tức th́ các ông ấy gọi lấy nghiên bút và giấy nháp. Chữa đi chữa lại đến mấy chục lượt. Hơn chục giấy bản các ông viết vừa hết, chúng tôi đă phải cung phụng mười ấm nước chè tầu và năm sáu ấm nước lăo mai, các ông ấy mới làm xong được bốn câu thơ, và tấm tắc khen hay, ông nọ bảo ông kia không thể bỏ được chữ nào. Rồi các ông cũng cắt một người chữ tốt lấy bút "đề thơ" mà đề lên đó. - Bạch người, tôi nghe bài thơ của các ông ấy cũng hay đấy chứ, sao người lại bảo là phường ḷi tói. - Bạch người, bốn câu thơ của người tuy có xuất sắc nhưng mà lời lẽ chua ngoa, tôi e đến tai các ông ấy th́ các ông ấy không bằng ḷng. - Bạch người, hay là người cho xóa bài thơ của người, v́ ông Đặng Như Bích, chính là con trai cụ Nghè Đặng, nay bị người chế riễu như thế, sợ rằng ông ấy quở trách đến bọn nhà chùa chúng tôi. Xuân Hương cười nhạt: - Được không hề chi, để tôi kư tên rơ ràng, nếu có sự ǵ lôi thôi, tôi sẽ chịu hết, không việc ǵ đến nhà chùa. Tức th́ nàng cầm bút viết thêm ba chữ "Hồ Xuân Hương" ở cuối bài thơ của nàng, rồi đủng đỉnh đi ra. Mặt trời lặn. . .. Trời xẩm tối. Trong phường Khán Xuân dần dần thưa người đi qua. Sáng hôm sau, nàng vừa ngủ dậy, mới uống cạn một ấm nước chè, bỗng thấy con nụ ở đường tất tả chạy về, hớt hơ, hớt hoảng, vừa thở nó vừa nói: - Thưa cô . . . ! Rồi nó lại phải đứng im để thở. Nàng cũng ngạc nhiên về thái độ luống cuống của nó, liền hỏi: - Cái ǵ thế! Giặc nổi ở đâu đây chăng? Con nụ vẫn thở, một lúc nữa nó mới cất tiếng: - Thưa cô, họ sắp đến phá nhà ta! Xuân Hương sầm mặt: - Họ là đứa nào? Đứa nào dám phá nhà này, chúng nó làm giặc hay sao! Im đi, không được nghe nhảm, nói càn ! Con nụ vẫn nói: - Thưa cô, thật đấy! Không phải giặc, đó là một bọn học tṛ đi thi. Nàng nghe câu nói của nó đă hơi có lư, liền gặng: - Ai bảo mày thế ? - Thưa cô, bà hàng bánh dầy ngoài đầu phố. - Bà ấy nói sao? Bà ấy bảo rằng: - Đêm hôm qua, khi đi bán hàng ở quanh mấy phố gần trường thi, đến chỗ nào cũng nghe thấy người ta ầm ầm bàn nhau, nhất định phải đến phá nhà của Hồ Xuân Hương. Bọn nọ rủ bọn kia, họ tính đến ngay ban đêm, nhưng v́ trời tối, nên họ bảo nhau để đến ngày nay. - Bà ấy chỉ nói thế thôi? - Bà ấy c̣n bảo con chính mắt bà ta trông thấy một người học tṛ cụ Nghè Đặng và ông con trai cụ ấy đi rủ rê khắp các nơi, rồi đến mấy ông học tṛ cụ Nghè Hoàng cũng hùa theo. - Chúng nó nói leo! Ta không biết họ cay ǵ ta, nhưng dù cay ǵ mặc ḷng, qua một đêm hôm qua, chắc là cơn tức của họ nguôi rồi. Bây giờ có thưởng thêm tiền họ cũng không dám đến nữa. Vả, vô cớ phá nhà người ta, có sợ tội không! Chỉ có giặc mới dám như thế. - Thưa cô, thật là họ chưa nguôi cơn tức, con cũng không biết họ tức ǵ cô, nhưng họ tức lắm. Bà hàng bánh dày nói rằng: Họ bảo cô làm nhục cụ Nghè Hoàng, cô làm nhục cả cụ Nghè Đặng, nhất định họ phải báo thù cho thầy, tức là hai cụ Nghè ấy. Một người bán hàng đậu phụ cũng nói với con: Sáng sớm hôm nay ở phường Đồng Xuân thấy có từng lũ học tṛ dúm dụm đứng ở giữa đường, bàn nhau họp lại một chỗ, rồi cùng đến kéo cho đổ nhà ta và bắt lấy cô mà đánh một trận thật đau, th́ mới hả giận. Xin cô liệu cách đối phó. Không th́ nguy đến nơi rồi. Xuân Hương mỉm cười, ngẫm nghĩ một lúc: nàng dặn con sen ở nhà coi nhà, rồi nàng trùm khăn vuông bịt lên đầu, lững thững cắp nón xuống gác và đi về nẻo Trường Thi. Một tốp học tṛ chừng vài chục người xúm nhau ở một quăng đường giữa phường Thái Cam. Tiếng nói chuyện ồn ào như đám họp chợ. Đánh bạo, nàng sẽ lảng vảng đi qua, xem họ nói ǵ. Con nụ nói đúng. Họ đương bàn tán về việc đến phá nhà nàng. Kẻ rằng phải đi bảo thù cho anh em, người rằng ai đội mũ lệch th́ xấu người ấy, chẳng hơi đâu can thiệp chuyện người dưng, lỡ ra phải tội phải vạ th́ ai chịu đỡ. Qua một hồi bàn bạc phân vân, kết cục những người bàn ngang đánh đổ hết những câu nghĩa khí, mỗi người tản đi mỗi ngả. Đám học tṛ ấy giải tán. Nàng lại cắp nón cứ đi. Gần đến trường thi, xa trông đă thấy một đám người khác quần tụ ở dưới gốc cây. Bọn này nghe chừng hăng hơn và cũng đông hơn bọn kia. Nàng đứng cách một quăng khá dài, đă nghe rơ tiếng họ nói: - Anh em phải biết cụ Nghè Đặng và cụ Nghè Hoàng tức là tiêu biểu của sĩ lâm ngày nay. Nó dám ngạo mạn với cụ Nghè Hoàng và chế riễu con trai cụ Nghè Đặng, tức là nó khinh sĩ lâm Bắc Thành. Con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, loài vật c̣n biết thế huống chi loài người. Chúng ta đă cắp sách đi học, được thấm nhuần tắm gội những cái nghĩa lư của thánh hiền dạy, th́ chúng ta phải bênh vực lấy người đồng đạo, cho khỏi mất tiếng của sĩ lâm! Người ấy nói dứt, một hồi vỗ tay vang một góc trời. Lâu lâu, tiếng vỗ tay đă im, đến lượt người khác nói tiếp: - Chúng ḿnh đă là người trong sĩ lâm, tuy không được hầu tiếp hai cụ Nghè, nhưng cũng tức như học tṛ các cụ ấy. Nó đă khinh các cụ, tất nhiên nó không vị nể ǵ chúng ḿnh. Vả các cụ mà bị tiếng xấu, chúng ḿnh cũng không đẹp mặt với ai. Cố nhiên đối với việc này, thế nào chúng ḿnh cũng không thể nín, phải làm cho ra lẽ, để rửa cái nhục chung cho sĩ lâm. - Nhưng làm bằng cách nào, rửa bằng cách nào, đó là một điều anh em phải bàn cho kỹ. Một tiếng nói lớn bật ra trong đám đông: - Anh ấy nói phải! Cố nhiên chúng ta phải bênh vực thể diện cho sĩ lâm Bắc Thành, nhưng bênh bằng cách nào. Không lẽ cả bấy nhiêu người kéo đến mà chửi vả với nó? Trong đám đông lại đổi giọng nói: - Việc ǵ phải chửi nhau? Chúng ḿnh là kẻ đọc sách biết chữ, chứ có phải hàng rau hàng hành đâu? Cứ kéo cả đến mà đánh cho nó một mẻ? - Không được! Bấy nhiêu con trai, đàn ông, đều là bậc thiếu niên anh tuấn trong nước, đâu lại đi đánh nhau với kẻ đàn bà con gái? - Thế th́ làm thế nào chứ? - Kéo cho đổ nhà nó đi, chứ làm thế nào! Phải đấy! Chúng ta phải trừng phạt nó bằng cách ấy mới đáng tội. Nếu mà chửi nó th́ không ra khi tiết của đấng trượng phu. - Anh em hăy nghĩ cho chín, không nên nóng nẩy. Vô cớ kéo đến phá cửa phá nhà người th́ c̣n luật pháp làm sao? Chúng ta có làm giặc đâu mà hoành hành như thế ? - Ừ, chỉ có giặc cướp th́ mới tự nhiên kéo đến nhà của người ta mà phá! Chúng ta toàn là hạng học tṛ trung vua, yêu nước, nếu như chúng ta làm bậy, quyết là các quan sở tại không để cho yên. - Cái đó không cần, chúng ḿnh làm việc nghĩa khí, chắc là các quan sở tại cũng phải phục. Huống chi quan nào th́ quan, chẳng qua cũng xuất thân từ sĩ lâm mà ra, nó làm nhục sĩ lâm, tức là nó làm nhục cả các quan. Chúng ta rửa cái nhục ấy cho sĩ lâm, cũng là rửa nhục cho các quan. Các ngài chẳng giúp ḿnh th́ chớ, lẽ nào lại nỡ ngăn cản chúng ḿnh. - Anh em làm việc nghĩa khí, anh em phải can đảm! Có can đảm mới làm nổi việc. Không sợ các quan bắt tội. Nếu bắt tội chúng ḿnh, các quan ở với ai. Nhà vua c̣n trọng học tṛ nữa là các quan? Bây giờ chúng ta tuy là học tṛ, nay mai chắc đâu không là rường cột của nhà nước. - Thôi, không phải bàn đi tán lại lôi thôi, cứ đến kéo đổ nhà con đĩ đi, tội đâu tôi xin chịu cả? - Nhưng chúng ta chỉ có số bấy nhiêu người kéo sao cho đổ nhà nó? - Thế th́ phải đi rủ thêm mấy ngh́n thí sinh hiện ở Hà Nội. Ai nghe chuyện đó mà không căm tức? Tôi chắc nhiều bọn đă họp nhau bàn việc này rồi. Nếu ḿnh đến rủ một câu, tất nhiên nhiều người sẽ vui ḷng theo. Một số đông lại vỗ tay khen phải. Tức th́ cả bọn chia làm mấy toán, mỗi toán rẽ đi mỗi phố. Biết qua t́nh thế như vậy. Xuân Hương không muốn đi theo họ nữa, lật đật, nàng lượn qua chùa Quán Sứ để trở về phường Khán Xuân. Trong chùa cũng nghe thấy tiếng học tṛ ầm ầm, đại để họ cũng nói như các bọn kia. Vừa đi, Xuân Hương vừa nghĩ: "Không ngờ sĩ phong ngày nay trẻ con đến thế, chỉ có một việc cỏn con như thế mà họ cố làm cho to chuyện. Không biết những khi nước mất nhà tan. Họ có hăng hái được như vậy hay không?" Càng nghĩ nàng càng căm cụ Nghè Hoàng, nàng cho việc này do cụ xướng xuất ra cho học tṛ cụ trước, rồi đến học tṛ cụ Nghè Đặng mới a dua theo. Rồi nàng lại tự an ủi: "Nhưng mà cũng chẳng cần ǵ. Ta chắc họ chỉ rủ rê bàn tán để lấy sĩ diện với nhau đấy thôi, quyết không anh nào, dám nhúng tay mà làm. Bởi v́ họ hoàn toàn là hạng nhát gan như cáy, đâu dám hung hành đến thế! ! Đi một quăng nữa, nàng lại lẩm bẩm một ḿnh: "Tuy vậy, ta không thể coi thường, chắc đâu trong bọn hàng ngh́n con người, lại không có lấy mươi lăm đứa điên dại? Nếu mà những đứa điên dại ra mặt đứng đầu có lẽ những kẻ hèn nhát cũng phải đua theo. Như vậy chẳng những mang tiếng, mà ta c̣n bị tàn hại là khác. Thế th́ bây giờ ta phải t́m cách ngăn ngừa, để cho việc khỏi xảy ra mới được..." "Nhưng mà, sự đă thế này, c̣n có cách ǵ ngăn ngừa được không?". Nàng cứ tự ḿnh hỏi đi hỏi lại măi một câu đó mà vẫn chưa t́m được câu trả lời. Lại đi quăng nữa, t́nh cờ qua cửa nhà ông Chiêu Bảy. đột nhiên nàng như mừng rỡ và reo lên rằng: "Được rồi, chỉ có lăo này c̣n có cảm t́nh với ta, ta phải vào t́m lăo ấy, chắc rằng lăo ấy sẽ giúp ta được việc khó khăn này," rồi nàng lững thững tiến vào trong nhà. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:18 AM Post #19 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Những cậu học tṛ nghe rồi, ai nấy như mơ mới tỉnh, tuy cũng có vài người dám cho ư kiến của thầy là quá khiên cưỡng, và họ quả quyết tin rằng thể văn lục bát với mấy câu kia chẳng qua ngẫu nhiên hợp nhau, không phải có dính với nhau, nhưng họ đều nín im không nói. C̣n phần đông đều phục cụ Nghè là bậc cao kiến, đă phát minh được một điều lạ lùng. Lại tan buổi học của lớp trung tập. Học tṛ đại tập dần dần kéo đến. Ai cũng như nấy, rón rén bước vào ngồi khắp dăy phản ở hai gian cạnh, sau khi đă chắp tay chào thầy. Nghỉ ngơi một lát, cụ Nghè giở lại tập quyển đă chấm, và t́m những quyển sẽ được "b́nh" để riêng một chồng. Mọi kỳ b́nh văn trước kia, quyển "tập" thường thường tới gần ba trăm học tṛ đến nghe, vừa đại tập vừa trung tập có khi tới gần bốn trăm. Kỳ này v́ đương khoa thi, học tṛ đại tập hầu hết nghỉ để đi thi. Chỉ có ít người bị trở đại tang hoặc v́ cớ khác không được vào thi th́ mới có quyền ở đó. Bởi thế kỳ ấy số quyển rất ít, nhất là những quyển được b́nh lại càng ít lắm. Nhưng số người vào nghe th́ nhiều gấp trước mấy lần. Là v́ khoa thi mới bắt đầu, thí sinh các trấn hăy c̣n tụ ở Hà Nội chờ xem bảng kỳ đệ nhất, nghe tin một trường danh tiếng như trường cụ Nghè Hoàng có kỳ b́nh văn, ai cũng nô nức đến xem. Chừng khoảng nửa buổi, người ta kéo vào càng đông. Các phản trong nhà, ngoài thềm đă bị ngồi hết, nhiều người phải dúm dụm đứng với nhau ở dưới giàn hoa. Hơi người đă chinh phục khí hậu giá rét và bắt nó phải ấm nóng. Mấy ông bạn thân của cụ Nghè mời đến dự thính vẫn chưa thấy lại. Mấy trăm sĩ tử cũng như gần trăm quyển văn hết thảy ngong ngóng chờ đợi. Có người nóng ruột đă lảng ra công. Mặt trời gần tới đỉnh đầu. Bóng rợp của mấy cây bàng đă thu gọn lại. Ngoài ngơ nghe có tiếng ho khù khụ và tiếng nói lao xao. Cụ Nghè Phạm lù khù đi vào với ông Chiêu Bảy, ông Chiêu Tám, ông Cống Thiều, ông Cống Minh và ba bốn ông Cống nữa. Tất cả những người đương ngồi đều lễ phép đứng lên. Rề ràng, cụ Nghè Hoàng bước trên ghế xuống và ra tận thềm đón khách. Với bóng vía của những chữ "cao niên thạc vọng", hai cụ Nghè và hai ông Chiêu ngồi trên chiếc ghế chính giữa một cách tự nhiên. Các ông Cống giữ lễ hậu tiến, khép nép ghé vào hai chiếc tràng kỷ kê hai bên cạnh. Trong nhà, ngoài thềm, sĩ từ lần lượt ngồi xuống. Cạn tuần nước chè thứ nhất, cụ Nghè Phạm phều phào hỏi cụ Nghè Hoàng: - Kỳ này có quyển nào khá không? Gật gù, cụ Nghè Hoàng đáp: - Có một quyển của Trần Danh Mẫn khá lắm, tôi đă phê "ưu" và hai quyển nữa tôi đă phê "b́nh", của Đàm Thận Trung và Nguyễn Mạnh Cố, cũng có nhiều đoạn xuất sắc. Vừa nói, cụ Nghè Hoàng vừa lục mấy quyển dấu khuyên đỏ chói đưa cụ Nghè Phạm và hai ông-chiêu. Ba người vừa xem vừa cười thích chí, ai nấy tấm tắc khen "được". Tuần nước chè thứ hai lại cạn. Công việc b́nh văn đă bắt đầu. Đầu bài kỳ này chỉ có hai bài tứ lục: chiếu thi "Nghĩ Nguyên Thế tổ trưng cầu Cố Tống di thần", hiệu là "Nghi Hán Tứ hiệu từ qui thương sơn". Với nghiên mực để sẵn bên cạnh, một ông học tṛ sang tiếng lĩnh quyển của Trần Danh Mẫn ra b́nh. Vừa đọc hết đoạn mở đầu cụ Nghè Phạm và hai ông Chiêu dục khuyên rối rít, làm cho người b́nh khuyên điểm không kịp, dấu mực mới chi chát để lên dấu son cũ, quyển văn ḷe loẹt như một đạo bùa. Người ấy b́nh hết quyển Trần Danh Mẫn đến lượt người khác b́nh quyển Đàm Thận Trung, bây giờ tiếng dục khuyên điểm đă thưa, khi người sau cùng b́nh đến quyển Nguyễn Mạnh Cố th́ trong trường tự nhiên không thấy vui vẻ bằng trước. Bỗng ở chiếc phản cạnh thềm mấy cậu học tṛ chụm đầu vào nhau, h́nh như không hề để ư đến bài văn đương b́nh. Rồi họ đọc lẩm nhẩm. Rồi họ cười tủm tỉm. Rồi họ cười khúc khích. Rồi họ xúm lại như đám tḥ ḷ, quên cả lễ độ ở trước thầy học. Ngạc nhiên, cụ Nghè Hoàng quát hỏi: - Cái ǵ ở ngoài ấy thế? Mười mấy cái đầu cùng ngửng lên. Một cậu gập tập trắng dấu vào túi. Các cậu khác quay ra ngồi lại một cách nghiêm trang, cả mười mấy người đều như muốn cười mà phải cố nhịn. Ông Chiêu Bảy chừng lấy làm lạ, vui vẻ hỏi: - Giấy má ǵ đấy? Các cậu đưa vào lăo xem. Mọi người đều bưng miệng nín cười vờ ngơ ngác nh́n nhau, không ai dám nói sao cả. Ông Chiêu Tám cũng tươi cười hỏi: - Chắc là văn thơ của ai chế riễu bọn lăo chứ ǵ! - Được các cậu cứ đem vào đây! Vẫn không người nào chịu đưa. Phát cáu, cụ Nghè Phạm bảo ông Cống Thiều ra lấy. Cực chẳng đă, cậu nọ phải móc túi giấy bỏ tập giấy ra, vẻ sợ sệt hiện đầy trên mặt. Ông Cống Thiều vừa đi vừa xem vừa cười tủm tỉm, rồi lễ phép trao lại cho ông Chiêu Bảy. Ông Chiêu Bảy cũng không thể nhịn cười mỗi khi xem hết một câu. Cuộc b́nh văn đă xong, bao nhiêu học tṛ đều ngồi nán lại, chờ coi tập giấy kia là bài ǵ. Ông Chiêu -Tám nhẩm ông Chiêu Bảy: - Có phải họ chế chúng ḿnh đấy không? Ông Chiêu Bảy lắc đầu: - Không phải. . . Bài ca tự t́nh của Hồ Xuân Hương. Cụ Nghè Hoàng nghe đến ba chữ Hồ Xuân Hương như bẩn cả lỗ tai, chau hai lông mày, cụ gắt: - Các ngài xem chi văn chương của con gái rơm ấy, xin cho trẻ nó đốt đi! Ông Chiêu Bảy ỡm ờ: - Nó rơm nhưng văn nó hay. Sao lại đốt? Tôi muốn xin phép các quan b́nh cho học tṛ nghe. Cụ Nghè Hoàng cho là ông này cố ư trêu ḿnh, im bặt không nói ǵ nữa. Cụ Nghè Phạm vội giằng tập giấy ở tay ông Chiêu Bảy: - Đưa lăo xem. Thế nào mà ông bảo là văn hay? Vừa coi hết vài ḍng đầu, cụ Nghè Phạm quăng tọt xuống án và gọi đồng sinh đem đốt ngay đi! Ông Chiêu Bảy lại cầm luôn lấy: - Vâng! Đốt th́ đốt? Nhưng xin hai cụ hăy cho chúng tôi b́nh chơi cái đă! Cụ nghè Hoàng sầm mặt: - Ở đây nhi mục quan chiêm không phải chỗ nói khôi hài. Ông Chiêu Bảy vẫn hời hợt: - Bẩm không phải khôi hài! Tôi muốn theo ư của Kim Thánh Thán đấy ạ? Chắc hai cụ cũng c̣n nhớ cả, trong bài tựa quyển Tây Sương Kư, Kim Thánh Thán có nói thế này: "Người ta bảo Tây Sương Kư là sách dâm, chỉ v́ trong sách có việc. . . ấy. Nhưng thử nghĩ kỹ mà xem: trời đất vũ trụ ngày nào không có việc. . . ấy? Chỗ nào không có việc... ấy. Có lẽ bảo trời đất có việc ấy th́ bỏ trời đất; vũ trụ có việc ấy th́ bỏ vũ trụ hay sao? Sao sách ấy có việc ấy lại muốn bỏ nó". Hai cụ nghĩ sao? tôi cho Thánh Thán nói vậy là phải. Vậy xin phép hai cụ, cứ cho chúng tôi b́nh thử? Ông Chiêu Tám cũng cười: - Th́ ông ấy đă muốn như thế, hai cụ cứ th́ cho phép cái nào? Ông Cống Thiều ra bộ sốt sắng: - Xin phép các cụ để cho tôi b́nh. Rồi ông ấy nhanh nhẩu đứng dậy đón tập giấy của ông Chiêu Bảy. Cụ Nghè Phạm cũng như cụ Nghè Hoàng lặng lẽ ngồi với mặt thâm mày xám. Ông Cống Thiều vừa cầm tập giấy vừa cười sằng sặc. Học tṛ trong nhà, ngoài thềm, hết thầy ngơ ngẩn chờ nghe. Lâu lâu, tan cơn buồn cười, ông Cống Thiều dơng dạc cất giọng: - Tự t́nh rằng: Khi canh cửi, lúc ngồi thong thả Ngẫm sự đời buồn bă gớm ghê! Âm dương lấy đấy mà suy Côn trùng cũng có huống chi loài người. Gớm rát tai, những lời tṛ chuyện Khéo đặt điều nói đến những câu Cả nhà im lặng như thường. Mấy ông học tṛ ngồi ngoài lầm rầm bảo nhau: - Như vậy tưởng không có ǵ là rơm Hai cụ Nghè vẫn mặt lăng mày vực, ông Chiêu Bảy vẫn chúm chím cười thầm. Ông Cống Thiều nghỉ trong giây lát lại tiếp: - Thơ rằng: Chém cha cái số má hồng trâu. Nghĩ đến càng thêm lắm nỗi sầu Dệt cửi quăng đi c̣n có lẽ Gieo thoi ném lại, chuyện không đâu. Ông Chiêu Tám nói xen: - Mấy câu ấy chắc ả muốn than về chuyện chồng rẫy. Được, văn cũng hoạt. Ông Cống Thiều vẫn đọc: - Gớm thay Gan người, dạ thế, sâu khôn xiết, Phao lên rằng: "tít tịt có chi" Tai thấp thoáng, bụng hồ nghi. Rành rành chẳng biết cái ǵ mọc đây Hai ông Chiêu đều cười ngặt nghẽo. Cụ Nghè Hoàng xua tay bảo ông Cống Thiều: - Thôi đừng đọc nữa. Nhưng ông Cống Thiều cứ đọc: - Cơn vắng vẻ mặt dầy ngắm lại Lúc buồn t́nh tay găi đă quen Rành rành múi mít đôi bên. Lùm lùm chai úp là miền hạ thôn. Ông Chiêu Tám vẫn tủm tỉm: - Tục quá? Không trách các cụ bảo đem đốt đi cũng phải. Văn chương ǵ mà tục đến thế. Ông Chiêu Bảy vội bênh bằng giọng cười cợt: - Cố nhiên nó tục! Nhưng ông nên biết cho người ta rằng: đó là một bài tự t́nh cốt để giải tỏ cái oan "ái nam", không phải là kinh, là chuyện, hay là một thiên gia huấn? Vả chăng, mấy câu này tuy tục nhưng chỉ ư tục chớ lời không tục, cũng c̣n có thể tha thứ. Hai cụ Nghè cắm mặt ngồi im, ông Chiêu Tám chỉ cười không đáp. Ông Chiêu Bảy nói tiếp: - Người đời, trừ ra bực thần tiên ai mà không tục! Tôi rất phục câu nói của ông Trương Xưởng: "Trong chốn khuê pḥng, t́nh nựng vợ chồng, c̣n có việc tệ hơn là vẽ lông mày". Bị vua hỏi đến tội vẽ lông mày cho vợ, mà ông ta dám nói như thế, kể cũng thật thà và can đảm lắm. Tôi không hiểu tại sao nhiều người vẫn luôn làm những việc tục, mà đến văn chương lại ghét ư tục? Thánh hiền có dạy thế đâu! Cụ Nghè Hoàng vùng vằng đứng dậy đi vào nhà trong. Ông Cống Thiều cao giọng ngâm nga: - Cỏ rêu mọc xanh om cửa tía, Lá cờ bay đỏ kẽ song đào, Môi dầy, miệng rộng, trán cao, Đúng trong tướng pháp ảnh hào nghi dung. Nhà trong nhà ngoài, tiếng cười rầm ŕ, tưởng như xô cả mái ngói. Ông Chiêu Bảy vỗ tay bảo ông Chiêu Tám: - Đoạn này chắc nó xỏ lăo Quyền Chưởng Vệ "Môi dầy, miệng rộng, trán cao", thật là mặt ông Quyền Chưởng vệ, không sai một chút. Ừ, một người tài t́nh như thế, vô cớ bị ông kia hỏi lấy một cách ép uổng, rồi lại vu cho cái tiếng "ái nam" để mà đuổi đi. Như vậy, nó tức là phải, xỏ là phải. Rồi ông Chiêu Bảy giục ông Cống Thiều: - Ông cho nghe tiếp đoạn dưới. Nhưng ông Cống Thiều v́ cười nhiều quá, phát nấc, không đọc được nữa, ông Cống Minh cầm quyển đọc thay: - Ấy rơ thật là. . . Mới được bốn chữ, ông này đă cười sằng sặc, không thể đọc tiếp. Một lát, cơn cười hơi tan, ông ấy bưng miệng đọc nốt: - Vông rầy rây, Bằng lương nhân trông thấy cũng ghê. Há như lá... Cơn cười sằng sặc lại nổi lên, ông Cống Minh lại phải nghỉ đọc. Lâu lâu, ông ấy lại bưng miệng đọc theo: - tróc, lá tre, Mà cười mà ngắm mà kề mà không Ông Chiêu Tám lắc đầu: - Đểu quá ! Nó xỏ lăo Quyền Chưởng Vệ đau quá. Ông Cống Minh ngân giọng: - Của trời cho, xinh gịn là thế. Người ta c̣n ẻo ẹo rằng "không". Nín th́ tức, nói thẹn thùng, Phải đồ oán chợ mà ḥng phô trương Mà dăi thẻ như phường tơ kén Vén màn quần bầy biện đồ ra Để cho những khách gần xa Thử xem cho biết rằng là có không Ông Chiêu bảy vỗ đùi: - Nghe đoạn này toàn là giọng oán tức. Ừ, bỗng không lại bị đeo tiếng ái nam, ai mà nhịn được. Ḿnh gặp nước ấy. Ḿnh c̣n nói tục bằng mười. Cụ Nghè Phạm hằm hằm đứng lên vào nốt nhà trong. Ông Cống Minh càng ngân dài giọng: - Nhưng mà lại vào ḍng quư tướng, Bộ râu xồm quai nón phất phơ. Hai ông Chiêu lại cùng cười như nắc nẻ: - Nó vẽ ra mặt ông Quyền Chưởng vệ, ông ấy nghe thấy bài này, không khéo sẽ tức mà chết. Ông Cống Minh vẫn liên tiếp không dừng: - Màn quần che kín sớm trưa Tuyết sương chẳng quản nắng mưa chẳng từng. Hoặc có lúc hớ hênh khuya sớm, Chỉ người nào ghé trộm th́ hay. V́ bằng đem để sánh bầy, Thất kinh vía quỷ, xa bay hồn phàm, Nhân nay buổi thanh nhàn thư thái. Chép vài hàng nhắn gửi nước non. Cậy ai phán bảo ôn tồn Nên tin rằng," có, chớ đồn rằng không". Đời đă thiếu anh hùng các sĩ. Cửa pḥng thu dễ hé cho ai! Tự t́nh ta viết ra chơi. Không không, có có, miệng người xá chi. Ông Chiêu Bảy cau mặt: - Đoạn kết láo quá, đáng đánh đ̣n. Tan cuộc b́nh văn, học tṛ lẻ tẻ ra về. Hai ông Chiêu và mấy ông Cống trịnh trọng vào tận nhà trong từ biệt hai cụ Nghè, các cụ vẫn chưa nguôi cơn giận, không thèm nói một câu nào cả. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 29 2006, 09:19 AM Post #20 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Nửa sân bên ngoài, dăy bàng cổ thụ vẫn nghênh ngang giương tàn lá úa đỏ giữ cho khu đất dưới gốc khỏi mất vẻ sầm tịch âm thầm. Nửa sân bên trong, mặt trời hèn yếu của muà đông đă nḥm xuống gậm giàn hoa bằng những lỗ phên mắt cáo. Với những mái tóc lăn tăn ngắn ngủi, mấy cây thông bù, trắc bách lù lù ngồi trên "thống gạch" như chưa nguôi cơn rét đêm qua. Với những nhành lá lướt mướt hơi sương, mấy khóm bạch ngọc, kiều diệp, loạn điểm tố tâm hớn hở múa trong hàng chậu da lươn, như mừng đón sự ấm áp của ánh nắng buổi sáng. Mùi hương thoang thoảng của hoa lan ḥa với mùi thơm đậm đà của hoa mộc, hoa sói, theo luồng gió nhẹ ngào ngạt bay vào trong nhà. Trường học cụ nghè Hoàng lúc ấy vừa mới mở cửa. Trên dăy xà nhà dài dặc, mấy bức hoành phi nền gấm ngất ngưởng nằm với nét sương kính của những chữ chân phương. Trước cái cây cột béo lùn, mấy đôi câu đối sơn then thếp vàng, bệ vệ phô vẻ đứng đắn của lối chữ đầu tầm đuôi én! Ngoài mặt các tường các vách, những bức tứ hoành xanh, đỏ, vàng, trắng thi nhau khoe nét tươi, nét rẻo, nét sắc sảo những ḍng chữ thảo sen chữ hành. Hết thảy mọi đồ trang hoàng đều tô điểm cho sự cao quí của một nền đạo đức. Bằng cái danh vọng lớn lao tự đời cố Lê c̣n lại và vẫn lẽo đẽo sống theo tuổi thọ của một vị cố lăo, ṭa nhà ấy đă nổi tiếng "mực thước", về sự rèn đúc nhân tài. Bây giờ giang sơn Nam, Bắc mới chung nhau một bức bản đồ, những cuộc chinh chiến đă im, việc học của các trấn Bắc Thành đă bắt đầu khôi phục cảnh hoang phế trong mấy chục năm loạn lạc, thiên hạ đă nô nức tập văn, đọc sách, để sáu năm một lần tranh cướp nhau miếng công danh trong kỳ thi hương, cho nên số người vào cửa cụ Nghè rất đông, tuy là một trường tư thục; mà sự sầm uất của văn học không kém ǵ trưởng đốc học Hà Nội. Trừ ra mươi cậu đồng sinh là những con cháu họ hàng theo đến, cố nhiên học tṛ cụ Nghè cũng như các học tṛ lớn khác, chỉ có hai lớp đại tập và trung tập. Trung tập hàng ngày phải đến nghe sách, hàng tuần phải học làm văn. C̣n đại tập th́ mỗi tháng tập văn mấy kỳ. Hôm ấy nhằm kỳ b́nh văn của học tṛ đại tập, bao nhiêu học tṛ trung tập đều phải đến sớm. Cổng trường vừa ngỏ, những chiếc nón quai chuỗi đă lố nhố đưa các thiếu niên anh tuấn lục tục tiến vào với những chồng sách dầy xù. Cụ Nghè c̣n ở nhà trong chưa ra. Nón sơn lần lượt bấu vào các tường các cột, hoặc đu lên then co tầu, các cậu học tṛ ngổn ngang chiếm lấy ngôi chỗ của ḿnh ở mấy tấm phản ngoài ngạch. Theo lệ mọi ngày, những người giỏi nhất lớp trung tập thay mặt cụ Nghè truyền dần "mối đạo" cho những cậu tí nhau; ưỡn ẹo với cuốn sách nát nhầu cắp ở dưới nách, một lũ đồng sinh tóc chỏm kế tiếp nhau tựa vào cột hiên, ngắc ngứ nhắc lại những câu đă học hôm trước. Mấy cậu không thuộc, thèn lẹn t́m chổi quét khắp nhà trong nhà ngoài, những cậu đọc trơn, tung tăng chạy đi mài son, mài mực. Cậu nào chưa có chữ học, đưa sách cái nhờ người viết cho. Cậu nào bài học đủ rồi, mở sách học chồng bên bực cửa đợi chấm. Nhà trường bắt đầu om ṣm. Những chữ "chi", "hồ", "giă", "giả" trong mấy cuốn sơ học vấn tâm, "ấu học ngũ ngôn thiên" nhất tề bị nhai đi nhai lại. Những tên ông thánh ông hiền ông vua ông quan trong các sách "Dương Tiết" , "Tam hoàng","Hạ Thương Chu", "Hán Cao Tổ", đồng thời bị réo róc hàng mấy chục lần. Nghĩa chữ dần dần bị nuốt, tiếng học dần dần thấy thưa, qùy đầu gối xuống gạch thềm, các cậu bé con tranh nhau đặt sách học vào trước mặt mấy cậu hơn tuổi và lễ phép hỏi: "thưa anh xin kể". Chữ nào nghĩa ấy, mỗi cậu bé con kể hết từng chữ trong bài học, th́ mỗi cậu lớn tuổi lại ngân giọng xướng luôn từng câu cho chúng đọc theo. Hết lượt kể nghĩa, các cậu tí nhau như đă trả xong món nợ một ngày hôm ấy, ai nấy sung sướng ra các gốc bàng rủ nhau đánh khăng đánh đáo để chờ lấy sách viết tô. Lớp học của bọn đồng sinh đă tan. Mặt trời vừa lên khỏi ngọn cây bàng. Trống cái hùng dũng điểm một hồi ba tiếng. Cả lũ học tṛ trung tập răm rắp đứng dậy với một giây "lạy thầy". Chiếc điếu ống, cái tráp sơn và cái giỏ ấm tích trịnh trọng rước cụ Nghè áo mũ chỉnh đốn ở nhà trong. Bệ vệ ngồi vào giữa bộ ghế ngựa quang dầu kê sau chiếc án thư giàn mạt, cụ Nghè thong thả mở tráp lấy ra một cái cối ngà, một cái chầy đồng và mấy miếng trầu không cau tươi. Nhanh nhẩu và cung kính, một cậu học tṛ tiến lên, cúi đầu đón các đồ vật đem sang phản cạnh, h́ hục nghiền, rồi lễ phép đệ vào. Móm mém nhai tản miếng trầu, cụ Nghè khoan thai vê mồi thuốc lào đặt vào nơ điếu. Nhanh nhẩu và cung kính, một cậu học tṛ khác tiến đến, cúi đầu bưng bộ đồ đánh lửa trên án thư ra phản thềm. Chan chát đập ḥn đá lửa vào một thanh sắt cho lửa bật ra và bén xuống lớp tro giấy có trộn lưu hoàng diêm tiêu đựng trong hộp gỗ, cậu ấy se sẽ nhón những mảnh than có lửa tiếp vào mồi giấy, ph́ pḥ thổi cho bùng ngọn, châm vào sợi giây ruột gà, rồi lễ phép đưa lên. Ngậm hớp nước chè trong miệng, cụ Nghè vít xe điếu hút ṣng sọc một hơi. Nước ngậm đă bị nhổ vào ống nhổ, khói thuốc đă bị thở lên mái nhà, cụ Nghè ra hiệu cho các cậu học tṛ đọc sách. Nhanh nhẩu và cung kính, một cậu học tṛ nữa nhẹ nhàng ôm chồng sách in cúi đầu đặt lên án thư. Sau một câu xin phép rất lễ độ, một cậu học tṛ tốt giọng đằng hắng mấy tiếng, rồi mở sách ra đọc. Theo lệ hàng ngày, bao giờ cũng đọc đủ ba thứ sách: kinh, chuyện và sử. Hôm nay trước nhất th́ đọc Kinh Dịch, rồi đến sách Trung Dung, rồi đến cuốn Tống Thiết Tông. Mỗi khi người đọc sách đọc hết bài cái bài bản trong một chương, cả trường đều im phăng phắc, hơn trăm con mắt chăm chú ngó vào sách của ḿnh, hơn trăm lỗ tai yên lặng đợi lời giảng của thầy. Bằng cái giọng sang sảng như tiếng chuông đồng, cụ giảng rành mạch từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, từ nghĩa gần đến nghĩa xa, cụ chỉ rơ ràng những lời bàn nào là phải, những lời bàn nào là quấy, cụ nói như rót vào tai học tṛ. Đọc rồi giảng, giảng rồi đọc, qua bốn năm lượt giă trầu, đánh lửa, thi kinh, chuyện, sử, mỗi thứ cũng bị nhắc lại hết vài chục tờ. Công việc "nghe sách" sắp đoạn, cao hứng, cụ vuốt râu, hỏi: - Các anh có biết thể văn lục bát nguồn gốc ở đâu hay không? Gần trăm bộ mặt hết thầy tỏ vẻ ngơ ngác, người ta phải đáp lời thầy bằng sự lặng im. Cụ cười khanh khách và mắng học tṛ một cách vui vẻ. - Các anh không có ư tứ chút nào. Giở lại bài đọc hôm nay mà xem, nguồn gốc thể văn lục bát ở ngay những chỗ các anh vừa mới "nghe" đó...? Gần trăm cuốn sách đều bị lật đi lật lại lung tung. Không ai t́m thấy chi hết, người ta lại đáp lời thầy bằng sự lặng im. Vẫn bằng giọng nói vui vẻ, cụ giảng: - Kinh, chuyện, sử mỗi pho đều có một câu lục bát: "Lục tam hàm chương khả chinh." Hoặc "ṭng vướng sự vô thành, hữu chung." Đó là câu ở Kinh Dịch. "Phù thủy, nhất thước chi đa, Cập kỳ bất trắc, ngoan, đà, giao, long..." Đó là câu ở sách Trung Dung, c̣n ở sử th́ là câu ǵ? các anh đă nghĩ ra chưa? Kẻ chau mày lục soát trí nhớ, người c̣n để mắt từa ṭi trong cuốn sách vừa đọc cuối cùng, chưa ai kịp trả lời ra sao, cụ đă nói tiếp: - "Đô dĩ sái sác hữu công, Sử chi ṭng tựa triệt tông miếu đ́nh." Có phải câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ, rành rành theo vần với nhau đấy không? Đó là câu ở Tống sử. Thể văn lục bát của ta khác hẳn các lối thi ca của Tàu, không biết xuất hiện ra từ đời nào, nhưng nguồn gốc của nó, quyết phải ở mấy câu ấy. Những người kiến thức nông nổi, không chịu xét đến uyên nguyên, thường khoe nước ḿnh có riêng một thể văn chương. Kỳ thực cũng là bắt chước kinh, chuyện và sử tất cả. Tiếc rằng thể văn ấy hiện nay chỉ có những câu phong dao, tục ngữ và những bài hát vè, hát đúm, nôm na mách qué, sai cả ư của thánh nhân... |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
![]() Our users say it best: "Zetaboards is the best forum service I have ever used." Learn More · Sign-up Now |
|
| Go to Next Page | |
| « Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic » |
- Pages:
- 1
- 2









2:14 AM Jul 12