Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Hán Mặc Tử
Topic Started: Jul 28 2006, 09:45 AM (648 Views)
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007
(4)

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 12: Cái chết được báo trước trong thơ

Căn bệnh phong không phải là căn bệnh có thể làm chết người một cách nhanh chóng. Đó là căn bệnh chủ yếu làm cho con người bị tàn phế. Một bệnh nhân cùng nhập viện với Tử vào lúc ấy, ở cùng pḥng bệnh với Tử tên là Nguyễn Văn Xê vẫn tiếp tục sống thêm 55 năm nữa sau khi Tử qua đời, cho đến năm 1995 mới mất. Có lẽ Tử cũng biết điều đó v́ anh rể của Tử hồi đó là y tá trong Bệnh viện Quy Nhơn và Tử cũng là người có tŕnh độ hiểu biết cao. Nhưng Tử vẫn luôn luôn nghĩ về cái chết.


Tử đă đoán trước được cái ngày ḿnh sẽ ra đi. Trong bài Trút linh hồn chàng viết: "Máu đă khô rồi, thơ cũng khô/T́nh ta chết yểu tự bao giờ/Từ nay trong gió, trong mây gió/Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ". Đó là một lời tuyên bố chắc chắn. Từ khi viết bài thơ này cho đến lúc Tử ra đi là khoảng thời gian khá xa và Tử mất là v́ bệnh kiết lỵ. Thế nhưng chàng vẫn viết: "Ta trút linh hồn giữa lúc đây/Gió sầu vô hạn nuối trong cây/C̣n em sao chẳng hay ǵ cả/Xin để tang anh đến vạn ngày".

Em ở đây là ai? Có lẽ cả Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đ́nh lẫn Thương Thương và nhiều h́nh bóng giai nhân khác. Tất cả những nàng thơ ấy, lúc này đều đă rời xa chàng. Cách đó một thời gian, chàng đă tạm biệt Thương Thương theo lời đề nghị của người anh ruột nàng là Trần Tái Phùng: "Than ơi! Hỡi! Biệt ly chan chứa/Tưởng cùng em vui thú hưởng tiêu dao/Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa/Cả đau thương dồn dập xót tâm bào".

Lúc này, nhiều câu thơ Tử làm ra cứ như lời tiên tri về cái chết của ḿnh. Đây không phải là đặc điểm của những bài thơ thuộc Trường thơ loạn như đă nói trước đây. Bởi chẳng hạn trong Điêu tàn, Chế cũng có dùng những từ ngữ để chỉ sự chết chóc nhưng tuyệt nhiên ta không thấy bóng dáng thần chết ở đâu mà chỉ là biểu hiện của triết lư thơ điên loạn mà thôi. C̣n một số câu thơ Tử viết về cái chết th́ lại khác. Ư thơ rất là "gở". Chẳng hạn Tử viết: "Ta c̣n tŕu mến biết bao người/Vẻ đẹp xa hoa của một thời/Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng/Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi".

Khoảng giữa tháng 9/1940, Tử nhắn Quách Tấn từ Nha Trang ra Quy Nhơn gặp chàng. Lúc này chàng đă được làm xét nghiệm và người ta đă phát hiện ra vi trùng Hansen trong cơ thể chàng.


Tử di ngôn lại cho Quách Tấn lo giữ ǵn tài sản văn chương của chàng, sau này chàng chết đi th́ tùy theo đó mà xử lư. Rồi chàng nhập bệnh viện phong. Nhập viện để chữa trị căn bệnh phong nhưng chàng coi như ḿnh sắp đi vào cơi chết. V́ sao vậy?

Trong Duyên kỳ ngộ, nhân vật Nàng có nói: "Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt/Rên không thôi và nức nở cả ban đêm". Quả đúng như vậy thật. Ly biệt và chết chóc luôn có mặt trong thơ Tử vào thời gian sau này: "Ḷng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt/Mộng có thành là mộng ở đầu hôm", "Không ai trang điểm má đào/Cho ta say chết đêm nào đêm nay"... Quách Tấn cho biết, viết thư cho bạn, Tử hay nói về cái chết: "Đó là ngưỡng cửa phải bước qua để đi đến cơi vĩnh hằng". Cũng trong vở kịch thơ độc đáo này, có một đoạn thơ làm cho nhiều người ngạc nhiên v́ nó rất giống những ǵ xảy ra sau này. Đó là khi nhân vật Chàng sắp sửa chia tay nhân vật Nàng, đă thốt ra lời than khóc: "Một mai kia ở bên khe nước ngọc/Với sương sao anh nằm chết như trăng/Không t́m thấy nàng tiên mô đến khóc/Đến hôn anh và rửa vết thương tâm". Theo hồi ức của người bạn đồng bệnh Nguyễn Văn Xê của Tử th́ Tử mất vào ngày 11/11/1940 trong cô đơn lặng lẽ, không có bất kỳ một người thân nào bên cạnh. Ngay buổi chiều ngày 11/11/1940, tang lễ được tiến hành một cách đơn giản. Nơi Hàn Mặc Tử yên nghỉ nằm bên cạnh con suối, về mùa mưa nước thường dâng đầy bờ. Điều này y như câu thơ trên mà chàng đă viết trước đó rất lâu.

Chàng đă nằm lại bên "khe nước ngọc" đó cho đến gần 20 năm sau mới được gia đ́nh đưa đi nơi khác. Năm 1959, gia đ́nh Tử cùng với người bạn thân là Quách Tấn tiến hành t́m một mảnh đất khác cho chàng. Sinh thời chàng rất thích cảnh Đèo Son nhưng v́ ở đó đang là khu quân sự thuộc chính quyền Sài G̣n nên đành phải t́m đến Gành Ráng. Ngày 13/1/1959, Tử được cải táng về Gành Ráng.

Như vậy là, một đời thơ dữ dội của nhà thơ có số phận lạ kỳ Hàn Mặc Tử đă kết thúc. Chàng đă được thỏa măn cái ước ao mà ngày nào vị phó soái của Trường thơ loạn Chế Lan Viên từng viết: "Hăy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/Một v́ sao trơ trọi cuối trời xa/Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo".

(C̣n tiếp)
Trần Đ́nh Thu

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ cuối: Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử?


Bút tích và chữ kư của Hàn Mặc Tử.
Trong loạt bài này, chúng tôi đă sử dụng bút danh Hàn Mặc Tử cho nhà thơ. Tuy nhiên cũng xin đưa ra đây vấn đề tranh căi hai bút danh này cho bạn đọc tham khảo. V́ đây là một cuộc tranh căi thú vị.


Cho đến nay, những nhà sưu tầm, nghiên cứu, những người quan tâm vẫn phân thành 2 "trường phái" khác nhau: Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử. V́ thế các cuốn sách, bài báo in ra cũng chia làm 2 nhóm: nhóm Mặc và nhóm Mạc.

Những "đại biểu tiên phong" cho "trường phái Mạc" có thể kể: Giáo sư Hoàng Như Mai, Giáo sư Văn Tâm, nhà sưu tầm Phạm Xuân Tuyển. Phạm Xuân Tuyển đă làm một bản thống kê những tài liệu sử dụng chữ Mạc như sau: Báo Người Mới trong các số chuyên đề về Tử năm 1941, Trần Thanh Mại trong cuốn sách viết về Tử năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam năm 1942, Phó tiến sĩ Phùng Quư Nhâm trên Kiến Thức Ngày Nay số 47, giáo sư Hà Minh Đức trong Tổng tập Văn học Việt Nam số 27, giáo sư Lê Đ́nh Kỵ trong Thơ Mới - Những bước thăng trầm - 1993, giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong tập Thơ t́nh yêu - 1995, giáo sư Hà Vinh - Khoa tiếng Việt - Đại học Tổng hợp Hà Nội trong Tạp chí Văn Học - 1995, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh - Phó tiến sĩ Trần Đăng Xuyền trong sách Những bài văn hay và khó - 1995...

C̣n những người theo "trường phái Mặc" gồm những ai? Có lẽ hai người quan trọng nhất là Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ và Quách Tấn, bạn thân nhà thơ. Nguyễn Bá Tín đă dùng Mặc trong hai cuốn sách quan trọng của ḿnh, cuốn Hàn Mặc Tử anh tôi - 1991 và Hàn Mặc Tử trong riêng tư - 1994. Quách Tấn cũng dùng Mặc trong Bóng ngày qua - 2000. Những người khác có thể kể: Chế Lan Viên trong Tuyển tập Hàn Mặc Tử - 1987, Lữ Huy Nguyên trong Hàn Mặc Tử thơ và đời - 1994, Trần Thị Huyền Trang trong Hàn Mặc Tử hương thơm và mật đắng, Vương Trí Nhàn trong Hàn Mặc Tử - Hôm qua và hôm nay...

Nguyễn Bá Tín cho biết, bút danh Hàn Mặc Tử đă có trước, c̣n bút danh Hàn Mạc Tử chỉ là bạn bè đặt cho để trêu đùa: "Có nhiều hôm anh ngồi thừ trên chiếc ghế mây, nh́n qua bức mành tre sáo trước cửa, đợi chị Cúc đi ngang qua, trông anh đến thiểu năo. Chị Cúc biết điều đó, về sau kể với con gái chị Như Lễ rằng: Nghĩ tội nghiệp anh quá. Bạn bè đến chơi trông thấy anh ngồi buồn bă như kẻ thất t́nh, nên thường trêu cợt anh là con người sau bức rèm lạnh và gọi đùa anh là Hàn Mạc Tử. Chữ Hàn ở đây có nghĩa là lạnh và chữ Mạc không dấu là bức màn. Hai chữ Hàn Mạc là bức rèm lạnh. Anh chỉ cười, không nói ǵ, cũng không để ư đến nữa. Măi về sau khi anh qua đời c̣n nhiều người vẫn tưởng lầm bút hiệu của anh là Hàn Mạc Tử". Ông Tín cho biết, Tử vốn rất ngưỡng mộ triết gia Mặc Dịch thời Chiến Quốc, nổi tiếng chủ trương thuyết Kiêm ái, nên anh cũng tự nhận thuộc môn phái Mặc Dịch, thương yêu hết mọi người. Chữ Mặc Tử có ư nghĩa là môn đồ Mặc Dịch. Chữ Mạc Tử th́ không có ư nghĩa ǵ. Chữ Hàn Mặc Tử nói lên ư nghĩa một thi sĩ nghèo nàn, nhưng t́nh thương rộng răi bao la.

Quách Tấn th́ kể tỉ mỉ hơn và có phần khác Nguyễn Bá Tín. Quách Tấn cho biết, khi mới bước vào làng thơ, Tử lấy bút danh là Minh Duệ Thị. Sau đổi là Phong Trần. Tử nổi tiếng với bút danh Phong Trần nhờ cuộc xướng họa thơ văn lịch sử với Phan Bội Châu. Khi Quách Tấn quen thân Tử, Quách Tấn chê bút danh Phong Trần không hợp với Tử. V́ thế Tử đổi qua bút danh Lệ Thanh. Bút danh này đă gắn chặt với tập thơ Lệ Thanh Thi Tập của Tử. Nhưng được ít lâu Quách Tấn lại chê. Tử lại đổi qua Hàn Mạc Tử. Quách Tấn lại chê nữa. Khi đó Tử nổi nóng. Quách Tấn liền gợi ư: "Đă có rèm th́ thêm bóng trăng vào. Hỏi c̣n cảnh nào nên thơ bằng?". Nghe vậy, Tử thêm "bóng trăng" là dấu á trên đầu chữ a nên chữ Mạc thành ra Mặc. Từ đó bút danh đổi nghĩa từ kiếp rèm lạnh ra anh chàng bút mực. Bút danh này khiến Tử rất thích và dùng luôn.

Lời giải thích trên đây nghe cũng thật có lư nhưng mấy chục năm nay vẫn không thuyết phục được những người theo "trường phái Mạc", cho nên cuộc tranh căi này chưa biết bao giờ kết thúc nếu không t́m được bút tích của chính nhà thơ để chứng minh ai đúng ai sai.

Trần Đ́nh Thu
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007
(3)

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 10: Căn bệnh phong và những câu chuyện hoang đường

Tháp Chàm ở Quy Nhơn, B́nh Định, nơi Hàn Mặc Tử viết câu thơ ''Mà v́ đâu những tháp Hời kiêu ngạo''
Nguyên nhân khởi phát căn bệnh phong của Hàn Mặc Tử được nhiều sách báo dẫn lại như sau: Một hôm từ Sài G̣n ra Phan Thiết thăm Mộng Cầm, chàng được Mộng Cầm dẫn đi dạo chơi lầu ông Hoàng...

Đến lúc chiều tối trở về, băng qua cánh đồng th́ gặp cơn mưa giông. Cả hai chạy vào trú trong một căn cḥi bên đường. Mưa mỗi lúc một lớn, trời tối đen như mực. Từ trong căn cḥi, hai người nh́n ra bên ngoài thấy có những quả cầu lửa màu xanh dưới đất vùn vụt bay lên. Những quả cầu lửa chớp tắt liên tục. Đồng thời lại nghe tiếng rền vang ầm ầm như ai lăn thùng sắt trên đường đá.

Hai người rất hoảng sợ, ngồi ôm nhau run rẩy trong căn cḥi. Một lúc trời quang mây tạnh, bước ra khỏi nơi trú mưa th́ mới biết ḿnh đang ở cạnh một ngôi mộ ai mới chôn. Trở về Sài G̣n ít hôm, Tử thấy ngứa ngáy khó chịu trong người. Một thời gian th́ nổi lên những vết đỏ như đồng xu ở trên lưng, sau lan dần ra khắp người. Căn bệnh phong xuất hiện từ đó.

Những thông tin này đăng tải lên kèm với lời phê phán việc Mộng Cầm bỏ Tử đi lấy chồng trong lúc Tử bị căn bệnh quái ác hành hạ khiến Mộng Cầm hết sức day dứt. Theo quan niệm dân gian trước nay, th́ căn bệnh phong phát ra do người ta nhiễm phải hơi dưới ngôi mộ mới bốc lên trong lúc mưa giông. Nhiều người tin điều đó là có thật nên càng trách Mộng Cầm nhiều hơn, rằng nàng đă gián tiếp đưa chàng đến chỗ bệnh tật rồi lại vội vă bỏ ra đi.

Tuy nhiên, ngay từ thời ấy, khoa học đă chứng minh căn bệnh phong do loại vi trùng có tên là Hansen gây ra. Chính khi Hàn Mặc Tử nhập bệnh viện phong Quy Ḥa, bệnh viện Quy Nhơn đă làm xét nghiệm cho chàng và t́m ra vi trùng Hansen trong cơ thể chàng.

Nhưng có một điều gây khó hiểu cho nhiều người là việc phát bệnh của Tử lại có những chi tiết trùng hợp với quan niệm dân gian nói trên. Nguyễn Bá Tín cho biết, chính Hàn Mặc Tử đă kể với bà mẹ về chuyện mắc mưa giông trong nghĩa địa: "Mẹ tôi linh cảm có chuyện chẳng lành. Bà vặn hỏi măi th́ anh kể chuyện có hôm cùng người bạn đi chơi Phan Thiết, gần tối băng qua cánh đồng, th́ gặp phải cơn mưa giông dữ dội...". Ngay cả Mộng Cầm cũng thừa nhận có chuyện như vậy. Hăy đọc đoạn đối thoại giữa Châu Hải Kỳ và Mộng Cầm trên tạp chí Phổ Thông số ra ngày 15/8/1961:

- "Như vậy xin lỗi bà, bà có đi lầu ông Hoàng và có gặp mưa không?

- “Tôi nhận có đi chơi lầu ông Hoàng với Hàn Mặc Tử, có gặp mưa, có ngồi ở nghĩa địa, nhưng không phải v́ đó mà Hàn Mặc Tử bị phong như anh Quách Tấn đă viết. Nếu Hàn Mặc Tử bị phong sao tôi không hề hấn ǵ cả? Hai người cùng ngồi núp mưa một chỗ kia mà!".

Song song với câu chuyện trên, có một câu chuyện hoang đường khác cũng liên quan đến căn bệnh phong, được truyền tụng trong dân gian thời ấy. Đó là sự báo thù của những người chiến bại ở thành Đồ Bàn khi xưa. Sự báo thù chỉ nhắm vào những thanh niên đẹp trai, học giỏi. Lời đồn đại này làm cho người dân thành phố Quy Nhơn thời ấy luôn sống trong hồi hộp lo âu. Lâu lâu ở thành Quy Nhơn, thấy vắng bóng một thanh niên khỏe mạnh, đẹp trai là mọi người hiểu anh ta vừa phát bệnh phong, phải đi trốn. Lời đồn này đă có từ xa xưa, trở thành một truyền thuyết lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người dân B́nh Định, đặc biệt là Quy Nhơn, bao giờ cũng nơm nớp lo sợ sự báo thù ghê gớm của một giống người Hời. Và thật thú vị, cũng chính những truyền thuyết này là chất men sáng tạo cho những nhà thơ điên của thành Quy Nhơn. Chế Lan Viên cùng với Yến Lan thường lang thang bên những tháp Chàm đổ nát để tưởng nhớ về những người Hời huyền thoại đó. Trong bài thơ Trên đường về, Chế Lan Viên viết: "Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi". Hàn Mặc Tử cũng đă từng viết: "Mà v́ đâu những tháp Hời kiêu ngạo/Hằng muôn năm sống măi dưới sương đêm".

Điều đáng tiếc nhất, là Hàn Mặc Tử, một người rất Tây học, nghiên cứu đủ thứ về văn minh phương Tây, từ thi ca cho đến triết học, lại không chịu tin vào Tây y. Chàng cũng bắt chước theo những người ít học khác khi biết ḿnh bị mắc bệnh phong là t́m một nơi hoang vu vắng vẻ để lẩn trốn chính quyền, lẩn trốn người quen rồi chạy chữa bằng những thứ thuốc của các lang băm. Cho đến cuối cùng, khi đă kiệt quệ sức lực th́ mới chịu vào bệnh viện. Và v́ thế nên mọi chuyện đă trở nên quá muộn màng.

(c̣n tiếp)
Trần Đ́nh Thu

Hàn Mặc Tử và những câu thơ đầy ma lực


Hàn Mặc Tử lúc ở Quy Nhơn.
Những năm 1938 - 1939, thi sĩ đau đớn dữ dội bởi bệnh tật, nhưng trước mặt bạn bè, chàng cố ḱm nén. Chàng chỉ gào thét trong thơ: "Trời hỡi! bao giờ tôi chết đi /Bao giờ tôi hết được yêu v́/ Bao giờ mặt nhật tan thành máu/ Và khối ḷng tôi cứng tựa si".

Lúc này, sau một thời gian chữa chạy bằng đông y, chẳng những căn bệnh phong cùi không thuyên giảm chút nào mà ngược lại c̣n làm thân thể chàng ngày một tiều tụy đi v́ những tác dụng phụ của thuốc. Mặt khác, thông tin về việc chàng bị mắc bệnh phong đă đến tai chính quyền địa phương. Do đó, chàng phải liên tục thay đổi chỗ ở để tránh sự truy đuổi gắt gao của Sở Vệ sinh công cộng thành phố Quy Nhơn. Cuối cùng, gia đ́nh t́m thuê cho chàng được một nơi ở khá kín đáo trong khu lao động nghèo nằm bên cồn cát trắng ven biển. Đó là một túp lều tranh mà theo Hoài Thanh kể là rách nát đến độ phải lấy giấy báo và bao thư che những chỗ dột trên mái nhà.

Trong thời kỳ bệnh tật, Tử sáng tác được ba tập thơ là Thơ điên, Xuân như ư và Thượng thanh khí. Nhưng có điều đặc biệt là, những câu thơ của chàng cứ tiến dần đến chỗ rối rắm khó hiểu theo tiến triển bệnh tật. Nhiều câu thơ đọc lên nghe rất hay nhưng độc giả hầu như không ai hiểu tác giả muốn nói ǵ. Tuy nhiên, theo lời Quách Tấn th́, điều lạ lùng là dù rối rắm khó hiểu như thế nhưng thơ Tử được người đời chuyền tay nhau đọc thuộc ḷng, đọc như đọc kinh, không hiểu ǵ cũng đọc thuộc làu làu. Như thể thơ của chàng lúc đó có ma lực. Hoài Thanh cũng xác nhận điều lạ lùng này: "Trong ư họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu phải chuyện dễ. Đă khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu, bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một ḿnh. Bài thơ đă biến thành bài kinh và người thơ đă trở nên một vị giáo chủ".

Chúng ta biết rằng, lúc Hàn Mặc Tử c̣n sống, chàng chỉ mới xuất bản được mỗi một tập Gái quê vào năm 1936, khi chàng c̣n khỏe mạnh và có tiền. C̣n phần lớn thơ chàng làm ra trong thời kỳ bệnh tật này th́ đến với người yêu thơ qua cách người này cho người khác mượn sổ để chép tay. Thơ của Tử không chỉ làm thích thú những cô cậu học sinh trung học vốn mơ mộng mà c̣n lan tỏa ra nhiều giới khác. Và thật đáng ngạc nhiên, nó c̣n lay động đến cả giới tu hành. Có một nữ tu trẻ đẹp chừng mười bảy mười tám tuổi ở ngôi chùa Liên Tôn gần đó, v́ ái mộ thơ Tử nên đă không ngần ngại căn bệnh phong cùi gớm ghiếc, ghé vào căn cḥi để thăm chàng. Về sau chàng đă đưa ni cô vào trong thơ của ḿnh với những t́nh cảm khá đặc biệt.

Một điều nữa, không những ma lực có ở trong lời thơ Tử mà c̣n nằm trong chính con người Tử khi chàng cất giọng đọc thơ. Yến Lan kể: "Nếu ai đă có lần nghe anh ngâm thơ th́ mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao. Và cộng với lời thơ, gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương, và nhạc điệu cung văn, đồng bóng".

Yến Lan, Chế Lan Viên, Hoàng Tùng Ngâm, Trần Kiên Mỹ... là những người bạn thân thiết thường ghé thăm chàng để an ủi chàng, một tâm hồn quá khổ đau lúc này như chàng viết: "Ḷng ta sầu thảm hơn mùa lạnh/ Hơn hết u buồn của nước mây/ Của những t́nh duyên thương lỡ dở/ Của lời rên xiết gió heo may". Bạn bè đă được nghe chàng đọc những vần thơ như chảy ra từ xương tủy. Yến Lan kể tiếp: "Anh đă biến thành những chuỗi dài đau khổ, cao thấp chen nhau như từng tia lửa bùng lên, như mảnh lụa tươi vàng bị xé vụn. Anh đă lấy xác thịt minh họa cho lời thơ. Có khi chúng tôi chảy nước mắt. C̣n anh, anh đă thành một người say. Các lần ngâm thơ của anh đều diễn ra như thế v́ những bài thơ ấy đều là những bài xót xa nhất. Đặc biệt là hôm anh ngâm bài Thánh nữ đồng trinh Maria. Xáo trộn trong đau thương, c̣n có nỗi tŕu mến hân hoan kỳ lạ".

Hàn Mặc Tử đă đắm ḿnh trong cái không gian vừa đau thương vừa bay bổng đó để làm ra những vần thơ khiến người đời say đắm cho đến lúc chàng phải bước chân vào trại phong Quy Ḥa ngày 20/9/1940.
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007
(2)

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 6: Mai Đ́nh - t́nh thơ hay t́nh yêu ?

Mai Đ́nh lúc gặp Hàn Mặc Tử.
Mai Đ́nh thực ra không phải là một nàng thơ, cũng không phải là một người t́nh của Hàn Mặc Tử...Đúng nghĩa, nàng là một người bạn văn chương của chàng. Nàng gặp Hàn Mặc Tử khi chàng đă lâm trọng bệnh, xa lánh tất cả mọi người để về ẩn ḿnh trong một cái cḥi tranh ở G̣ Bồi, cách thành Quy Nhơn khoảng 15 cây số.

Mai Đ́nh xuất thân trong một gia đ́nh khá giả, nhưng mang trong ḿnh ḍng máu lăng mạn, nàng theo tiếng gọi bốn phương cất bước ra đi. Nhờ có nghề dạy nữ công gia chánh cho những gia đ́nh giàu có nên Mai Đ́nh kiếm kế sinh nhai khá dễ dàng. Nàng đă đặt chân đến nhiều vùng đất xa xôi, có khi qua tận Nam Vang. Năm 1937, Mai Đ́nh đến Quy Nhơn. Trước đó nàng đă nghe danh Hàn Mặc Tử từ lâu. Là một người có cá tính mạnh mẽ, nàng không câu nệ, t́m cách giáp mặt chàng. Lần đầu tiên, Hàn Mặc Tử v́ tự ti bệnh tật nên không chịu tiếp. Nàng bèn vào Nha Trang, thông qua Quách Tấn để "tiếp cận" chàng. Trong hồi kư của ḿnh, Quách Tấn nhớ lại: "Gặp tôi, nàng không chút e lệ, ngồi nói chuyện như người quen biết đă lâu. Phê b́nh bài thơ Gái quê xong, nàng tỏ thật nỗi ḷng đối với Tử: “Biết Tử mang bệnh ngặt nghèo, ḷng tôi hết sức thương cảm. Tôi mong sao chia sớt được nỗi đau khổ của Tử một đôi phần”. Rồi nàng trách Mộng Cầm sao đành ḷng bỏ Tử".

Mai Đ́nh sau hơn nửa thế kỷ.

Nàng gửi cho Quách Tấn bài thơ Biết anh để tặng Hàn Mặc Tử với những câu thơ thật mạnh dạn: "C̣n anh em đă gặp anh đâu!/Chỉ cảm vần thơ có những câu/Âu yếm say sưa đầy cả mộng/Xui ḷng tư tưởng lúc đêm thâu". Đây là bài thơ đầu tiên mở ra một t́nh bạn văn chương thú vị giữa hai người. Hàn Mặc Tử nhận được thơ, liền hồi âm nhưng Mai Đ́nh đă đi khỏi Nha Trang. Chàng buồn rầu sáng tác bài Lưu luyến: "Chửa gặp nhau mà đă biệt ly/Hồn anh theo dơi bóng em đi/Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió/Lưu luyến bên em chẳng nói ǵ".

Điều đặc biệt nhất trong mối quan hệ Mai Đ́nh - Hàn Mặc Tử là nàng đă hành xử rất đúng với tinh thần văn chương: Tứ hải giai huynh đệ. Theo tài liệu của Trần Thanh Mại th́ mùa hè năm 1938, Mai Đ́nh từ biệt Quy Nhơn để vào Sài G̣n thu xếp công việc. Khi trở ra, Mai Đ́nh đưa Hàn Mặc Tử một món tiền để lo thuốc thang và nói ư định của ḿnh: sẽ ở lại trong cái cḥi tranh cùng với chàng. Hàn Mặc Tử từ chối nhưng nàng mặc kệ, cứ ở đấy đi chợ nấu ăn, sắc thuốc cho chàng. Mai Đ́nh không hề ngần ngại bệnh tật cũng như dư luận người đời.

Hàn Mặc Tử từ chỗ không muốn gặp mặt đến xúc động trước việc làm của Mai Đ́nh nên đă có nhiều câu thơ tặng nàng: "Đây Mai Đ́nh tiên nữ ở Vu Sơn/Đêm muộn xuống gieo vào muôn sóng mắt/Nàng, ôm nàng hai tay ta gh́ chặt/Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!". Ngoài lo việc cơm nước thuốc thang cho chàng, thời gian c̣n lại nàng cùng chàng ngâm thơ vịnh cảnh. Hai tâm hồn thi sĩ sống bềnh bồng với những vần thơ như thế suốt một thời gian dài. Nhưng số tiền Mai Đ́nh mang theo cũng đă hết. Nàng khuyên chàng vào Bệnh viện phong Quy Ḥa để điều trị, nàng sẽ đi theo và ở luôn trong ấy để chăm sóc cho chàng. Nhưng Hàn Mặc Tử từ chối. Cuối cùng hai người phải từ giă nhau. Nàng lại cất bước giang hồ bốn phương. Lâu lâu, chàng lại nhận được cánh thư của nàng từ phương trời xa nào đó. Trong một lần ngồi buồn, chàng đem những từ ngữ trong bức thư nàng gửi xếp lại thành bài thơ. Đó là bài Thao thức với những câu thơ da diết: "Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy/Cho nên muôn dặm ở ngoài kia/Em đang mong mỏi, em đang nhớ/Bứt rứt ḷng em muốn trở về".

Mối t́nh thơ kỳ lạ giữa Mai Đ́nh và Hàn Mặc Tử cùng với việc Mai Đ́nh chăm sóc cho Hàn Mặc Tử được Trần Thanh Mại công bố vào năm 1942, một năm sau ngày Hàn Mặc Tử măi măi ra đi. Nhưng câu chuyện trên đây không được gia đ́nh Hàn Mặc Tử thừa nhận và Quách Tấn th́ cho rằng Trần Thanh Mại đă hoàn toàn bịa đặt. Tuy nhiên, những tài liệu của Trần Thanh Mại công bố đă thuyết phục được không ít người. Có người cho rằng, trước đây giữa nhà thơ Quách Tấn và nhà phê b́nh Trần Thanh Mại xảy ra vụ kiện bản quyền thơ Hàn Mặc Tử, liên quan trực tiếp đến cuốn sách Hàn Mặc Tử mà Trần Thanh Mại xuất bản năm 1942, xuất phát từ mâu thuẫn này mà nhà thơ Quách Tấn đă nói như vậy chăng?

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ: Kỳ 7: H́nh bóng giai nhân, nguồn sống của mạch thơ Hàn Mặc Tử


Ngọc Sương lúc c̣n trẻ
Thương Thương là một nàng thơ huyền diệu nhất của Hàn Mặc Tử. Bởi chàng không chỉ đơn thuần làm thơ về nàng như những h́nh bóng giai nhân khác. Trong tâm tưởng chàng, Thương Thương không phải là người của cơi trần.

Trong bài thơ Tiêu sầu, chàng đưa ḿnh bay lên tận cung trăng để gặp "Hằng Nga Thương Thương", trong vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Cẩm châu duyên, Thương Thương là tiên nữ. Chính v́ vậy, có một số tài liệu cho rằng Thương Thương không phải là người có thật mà chỉ là cái tên mượn. Trần Thị Huyền Trang, cháu nhà thơ Quách Tấn viết trong Hàn Mặc Tử - hương thơm và mật đắng: "Thương Thương không phải là một nhân vật có thật. Tất cả mọi chuyện đều do Trần Thanh Địch sắp đặt ra".

Chúng tôi đă trực tiếp gặp nhà văn Trần Thanh Địch tại tư gia ở đường Nguyễn Đ́nh Chính, quận Phú Nhuận, TP.HCM để t́m hiểu về nàng thơ này. Trần Thanh Địch là một trong hai người bạn thân nhất của Hàn Mặc Tử (người kia là nhà thơ Quách Tấn). Thương Thương chính là Trần Thị Thương Thương, là con của ông Trần Thanh Đạt, anh trai hai nhà văn Trần Thanh Mại và Trần Thanh Địch. Hàn Mặc Tử cũng là bạn của Trần Tái Phùng, anh ruột Thương Thương.

Ông Địch cho biết, vào năm 1936, khi Hàn Mặc Tử ra Huế lần cuối cùng để tặng tập Gái quê cho bạn bè, th́ Thương Thương chỉ mới 12 tuổi, nên Hàn Mặc Tử chẳng hề chú ư đến làm ǵ. Đến năm 1939, Hàn Mặc Tử đă trải qua nhiều biến cố đau buồn trong cuộc đời như người anh cả dạy chàng làm thơ năm nào qua đời, Hoàng Cúc theo gia đ́nh về quê, Mộng Cầm bỏ đi lấy chồng, bệnh t́nh chàng ngày một nặng hơn. Lúc này, chàng đă sống ẩn ḿnh, chỉ biết làm thơ. Làm được bài nào, chàng chép lại để gửi ra Huế cho Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng đọc.


Nhà văn Trần Thanh Địch, người nắm rơ câu chuyện về Thương Thương

Lúc này, tiếng tăm của chàng đă nổi như cồn. Thơ chàng làm ra được học sinh trung học chép tay chuyền nhau đọc thuộc ḷng. Đặc biệt là những nữ sinh, rất thích chép và đọc thơ Hàn Mặc Tử. Trần Thị Thương Thương bấy giờ đang học Trường Trung học Đồng Khánh, cũng bắt đầu say mê thơ Hàn Mặc Tử.

Trần Thanh Địch kể, một hôm ông đang ngồi viết thư cho Hàn Mặc Tử th́ Thương Thương đến gần, nói đại ư nếu có gửi thư cho Hàn Mặc Tử th́ xin cho Thương Thương gửi lời thăm. Trần Thanh Địch khuyên Thương Thương viết một bức thư ngắn gửi kèm cho lịch sự. Thương Thương nghe lời chú, viết bức thư xă giao, nói đại ư đă đọc thơ của chàng nhiều và rất thích, nay gửi lời chúc chàng mau b́nh phục để sáng tác.

Nhận được thư Thương Thương, chàng hồi âm ngay. Chàng nói rất vui và sẽ có thơ gửi tặng Thương Thương. Quả nhiên chỉ vài hôm Thương Thương bắt đầu nhận được thơ chàng gửi tặng. Đó là các đoạn trích hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội. Chàng cũng đặt cho Thương Thương biệt danh Người lụa bến sông Hương.

Hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội là những sáng tác độc đáo của Hàn Mặc Tử. Trần Thanh Địch cho biết cứ vài ngày ông và Trần Tái Phùng lại nhận được một đoạn thơ từ Quy Nhơn gửi ra. Phùng đọc xong chuyển cho người anh rể vốn là giáo viên Trường Trung học Khải Định. Người này đem lan truyền trong các học tṛ của ḿnh. Điều đặc biệt trong Duyên kỳ ngộ lẫn Quần tiên hội, tên tuổi của Thương Thương và Hàn Mặc Tử được nêu đích danh. Chẳng hạn trong Duyên kỳ ngộ, chàng viết: "Em là Trần Thương Thương/Anh là Hàn Mặc Tử/Không phải cách âm dương/C̣n có khi hội ngộ".

Thương Thương lập tức nổi tiếng theo. Giới học sinh ở Huế xôn xao. Trong một thời gian ngắn, chuyện đến tai ông Trần Thanh Đạt, thân sinh của Thương Thương. Gia đ́nh Thương Thương là gia đ́nh quan lại, ông nội Thương Thương làm Thừa biện Bộ Binh, ông ngoại làm Thượng thư Bộ Lễ. Ông Trần Thanh Đạt khi đó cũng đang làm Tham tri Bộ Quốc gia giáo dục, ba năm sau được thăng Thượng thư Bộ Quốc gia giáo dục. Trong một gia đ́nh như vậy, việc Thương Thương trở thành một người nổi tiếng kiểu đó khó mà được chấp nhận. Ông Trần Thanh Đạt đă gọi anh Thương Thương là Trần Tái Phùng đến, yêu cầu t́m cách làm nguội dư luận. Trần Tái Phùng bèn viết thư gửi Hàn Mặc Tử, đề nghị chàng thôi sử dụng h́nh ảnh của Thương Thương trong sáng tác. Tử nhận được thư và lập tức làm theo đề nghị của bạn. Từ đó, Quần tiên hội măi măi bị bỏ dở dang.

Thương Thương là một nàng thơ đúng nghĩa của Hàn Mặc Tử. Không gặp mặt, không nghe tiếng. Chỉ là những tưởng tượng. Thế nhưng những sáng tác của chàng về nàng thật diệu kỳ. Về tuổi tác Thương Thương, nhiều tài liệu nói rất khác nhau. Nhưng theo nhà văn Trần Thanh Địch, khi Hàn Mặc Tử viết Quần tiên hội th́ Thương Thương khoảng 15 tuổi. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Tuyển, người đă bỏ công t́m hiểu rất kỹ về cuộc đời Hàn Mặc Tử cho biết, Thương Thương sinh ngày 8/10/1924. Như vậy là vào năm 1939, Thương Thương đă 15 tuổi chứ không phải mới 12 tuổi như một số tác giả khác.

Hàn Mặc Tử là một người đa sầu đa cảm. Gặp ai cũng đem ḷng thương nhớ. V́ thế có rất nhiều h́nh bóng giai nhân đă đi vào thơ chàng. Ngoài Mộng Cầm, Hoàng Cúc, Mai Đ́nh, Thương Thương là bốn người phụ nữ ảnh hưởng sâu sắc tới thơ Hàn Mặc Tử, trong từng giai đoạn c̣n có những người phụ nữ khác để lại dấu ấn trong thơ chàng. Đầu tiên là Ngọc Sương. Nàng là chị ruột của Bích Khê, bạn Hàn Mặc Tử, đồng thời là d́ ruột của Mộng Cầm. Nguyên khi Mộng Cầm đi lấy chồng, Bích Khê thấy bạn buồn quá bèn tặng tấm h́nh của hai chị em cho Hàn Mặc Tử và giới thiệu đôi chút về Ngọc Sương. Do đó mà Ngọc Sương cũng đă đi vào thơ Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên Ngọc Sương không hề có mối giao lưu nào với Hàn Mặc Tử dù qua thư từ. Măi đến khi Bích Khê mất vào năm 1946, Ngọc Sương soạn lại di cảo của em mới biết rơ một số bài thơ Hàn Mặc Tử viết về ḿnh.

Một người nữa là Thanh Huy. Nàng tên thật là Vơ Thị Thu Huy, là chị vợ nhà văn Trần Thanh Địch, khi đó đang sinh sống ở Phan Thiết. Cũng như Ngọc Sương, Thanh Huy chỉ làm quen qua thư chứ chưa gặp mặt Hàn Mặc Tử. Đó là lúc chàng đă phát bệnh nặng. Thanh Huy cũng đang tập tành làm thơ, được Bích Khê khuyên nên viết thư động viên Hàn Mặc Tử. V́ thế một hôm Tử đang chán nản buồn phiền th́ có bức thư bỏ trong phong b́ màu xanh của Thanh Huy gửi đến. Lập tức chàng sáng tác bài Bức thư xanh: "Thanh Huy hỡi nàng chưa là châu báu/Cớ làm sao phước lộc chảy ra thơ/Duyên làm sao cho Trí đến dại khờ/Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm/Ta đă nuốt và h́nh như đă cắn/Cả lời thơ cho văi máu nàng ra". Bài thơ viết một cách dữ dội, Thanh Huy đọc và thôi không liên lạc với Tử nữa v́ khiếp đảm.

Mỹ Thiện cũng là một nàng thơ để lại dấu ấn mạnh trong thơ Hàn Mặc Tử. Nàng người gốc Huế, ở cạnh nhà Hàn Mặc Tử tại thành phố Quy Nhơn. Nàng sống với cha và bà mẹ kế xấp xỉ tuổi nàng. Mỹ Thiện rất giỏi âm nhạc dân tộc, nổi tiếng là một cây đàn tỳ bà tài hoa, đặc biệt có thể chơi đủ năm cây đàn tranh, nhị, nguyệt, bầu, tỳ bà. Những đêm khuya, nàng thường dạo đàn tranh réo rắt. Hàn Mặc Tử chưa một lần gặp mặt Mỹ Thiện nhưng chàng bị ám ảnh bởi tiếng đàn. Ở thành phố Quy Nhơn dạo ấy, không chỉ riêng Hàn Mặc Tử mà nhiều chàng trai khác cũng mơ tưởng đến người ngọc. Khi bệnh t́nh càng nặng, tiếng đàn Mỹ Thiện càng làm cho chàng khó ngủ.

Mỹ Thiện không thoát khỏi hồng nhan bạc phận. Sống với người mẹ kế, nàng thường xuyên chịu đựng những ganh ghét. Một ngày kia nàng đă kết liễu đời ḿnh bằng mười viên thuốc ngủ Véronal. Cái chết của Mỹ Thiện đánh tan mọi ngờ vực của những người ác ư và bà mẹ kế, là nàng đă hoang thai. Các bác sĩ đă công bố nàng vẫn c̣n là cô gái trinh tiết. Ngay lập tức Hàn Mặc Tử vào buồng đóng cửa lại và bài Cô gái đồng trinh ra đời tức khắc: "Đêm qua trăng vướng trên cành trúc/Cô láng giềng bên chết thiệt rồi/Trinh tiết vẫn c̣n nguyên vẹn mới/Chưa hề âu yếm ở đầu môi/Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc/Cả một mùa xuân đă hiện h́nh". H́nh bóng Mỹ Thiện từ đó c̣n trở lại nhiều lần trong thơ chàng. Nguyễn Bá Tín em chàng kể lại: "Cô gái đồng trinh từ đó trở thành một hiện tượng kỳ lạ, một nàng thơ dẫn dắt anh vào những nhớ thương bàng bạc bâng quơ, hoặc ḥa nhập vào những lời thơ quằn quại xót xa mà cuộc đời nàng đă đi qua ngắn ngủi"...

Hàn Mặc Tử đă sáng tác được 5 tập thơ, trong đó Lệ Thanh Thi Tập là tập thơ đầu tiên. Trong tập này bài Buồn thu có những câu khá hay: "Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt/Cảnh sắp về đông mắt sẽ vơi". Đây là bài thơ liên quan đến một người phụ nữ: đó là cô Trà. Nàng là người về bên ngoại của Hàn Mặc Tử nhưng không bà con. Chàng đă gặp nàng vào cái thời c̣n rất trẻ, tính t́nh khi ấy hết sức nhút nhát. Nàng chờ chàng ngỏ lời nhưng măi không thấy chàng lên tiếng. Mà con gái Huế thời ấy luôn lấy chồng sớm. Chàng chưa nói được ǵ th́ nàng đă sang sông. Sực tỉnh, chàng làm bài Buồn thu với nhiều tiếc nuối. Đây có thể coi là h́nh bóng người phụ nữ đầu tiên đi vào thơ chàng...

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 8: Những câu thơ lạ và căn bệnh tâm thần

Hàn Mặc Tử lúc c̣n ở Quy Nhơn, trông khỏe mạnh hơn thời kỳ đi làm báo
Ai cũng biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong. Nhưng ngoài căn bệnh mà người ta cho rằng đă ảnh hưởng đến thơ của Tử, bật ra thành những lời gào thét uất hận, th́ trong thơ Tử c̣n có những h́nh ảnh thật kỳ dị khó hiểu có thể liên quan đến một nguyên nhân khác. Chính người em ruột của Tử đă đặt vấn đề về một căn bệnh tâm thần mà Tử mắc phải. Có thể như thế được chăng?

Trong thơ Tử có những h́nh ảnh thật kỳ dị, đôi lúc ma quái rùng rợn. Đến nỗi Hoài Thanh đă phải công nhận là: "Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài Thơ điên, vườn thơ của người rộng thinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh".

Quả đúng như thế. Đọc thơ của chàng đôi lúc thấy sởn da gà: "Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ/Tiếng rú ban đêm rạng bóng mờ!/Tiếng rú ḷng tôi xô vỡ sóng/Rung tầng không khí, bạt vi lô/Ai đi lẳng lặng trên làn nước/Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?/Mà sao ngậm cứng Thơ đầy miệng/Không nói không rằng nín cả hơi", "Lụa trời ai dệt với ai căng?/Ai thả chim bay đến Quảng Hằng?/Và ai gánh máu đi trên tuyết/Mảnh áo da cừu ngắm nở nang", "Tôi d́m hồn xuống một vũng trăng êm/Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực/Cho hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức/Rồi bay lên cho tới một hành tinh/Cùng ngả nghiêng lăn lộn với muôn h́nh/Để gào thét một hơi cho rởn ốc".

Quách Tấn đă nghe Hàn Mặc Tử kể lại những câu chuyện liên quan đến các h́nh ảnh người gánh máu đi trên tuyết và người ngồi khít cạnh tôi như sau: "Đêm ấy - theo lời Tử kể - v́ tiết sắp sang đông nên băi biển không một bóng người qua lại, mặc dù trời không lạnh và trăng sáng như ban ngày. Đêm tạnh hết sức, tạnh đến nỗi nghe cả tiếng chiêm bao! Cảnh trời thật mênh mông bát ngát. Ḷng tôi lại mênh mông bát ngát bằng hai... Thân tôi ch́m trong không gian vô tận và hồn tôi ch́m trong cơi ḷng rộng vô biên. Tôi có một cảm giác ngờm ngợp... Chợt nh́n lên trời thấy bóng trăng đă đứng đầu, và nh́n bên cạnh thấy một bóng người ngồi sát. Liền đó từ trong bóng người ngồi cạnh tôi, bước ra một bóng người thứ hai, đi từ từ ra biển và bước lững thững trên mặt nước... Rồi hai bóng đều biến mất và mặt biển đông lại thành tuyết sáng ngời dưới bóng trăng khuya. Thoạt hiện ra một người, thân vóc nở nang, ḿnh khoác chiếc áo lông, vai khoác hai thùng thiếc đựng đầy nước óng ánh. Người ấy bước đi th́ nước trong thùng tung ra và hóa thành huyết đổ lă chă trên tuyết. Người gánh máu đi lần vào bờ... Tôi khiếp quá hét lên thành tiếng, vụt đứng dậy, chạy một mạch về nhà. Vừa đến nhà, mệt quá, té nằm trước thềm, ngút hơi... Từ ấy cảnh tượng kia ám ảnh tôi măi...". Quách Tấn viết tiếp: "Tử lại nói: Cảnh tượng người gánh máu đi trên tuyết khi trông thấy th́ rùng rợn hơn cảnh tượng người ngồi bên cạnh tôi. Song về sau mỗi lần nghĩ lại, cảnh tượng người ngồi bên cạnh lại gây một cảm giác rùng rợn hơn".

Đó là những trạng thái "xuất thần" mà hàng mấy chục năm, tất cả những người nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử không ai lư giải được nguyên nhân, kể cả Quách Tấn. Người ta chỉ cho rằng nó bật ra từ sự đau khổ nung nấu mà Tử phải gánh chịu mà thôi.

Người em kế của Tử, sau nhiều năm lặng lẽ chiêm nghiệm, đă công bố một kết luận vào năm 1991: "Trong quá tŕnh chung sống bên anh, tôi ghi nhận anh có hiện tượng suy nhược tâm thần, bệnh đó đă được nhiều người bạn tôi, chuyên khoa tâm lư sau này xác nhận là hiện tượng "névrose", một chứng rối loạn thần kinh nào đó, mà con người vẫn c̣n sáng suốt và rung cảm bén nhạy, vẫn làm chủ được trí óc ḿnh".

Nguyễn Bá Tín cho biết, có một tai nạn đă xảy ra đối với Tử vào lúc nhỏ, có thể ảnh hưởng đến tâm thần chàng về sau. Đó là lúc chàng khoảng 17-18 tuổi, suưt bị chết đuối ở biển Quy Nhơn. Sau khi thoát chết, Tử trở nên hoảng loạn khác thường. Từ đó chàng bỏ luôn thói quen tắm biển, sợ nước, ít hoạt động, h́nh thể gầy nhỏ đi. Nhiều biểu hiện làm cho gia đ́nh sợ rằng Tử bị tâm thần, nhưng sau đó thấy chàng b́nh thường, thậm chí c̣n tập làm thơ nên cũng quên đi nỗi lo lắng.

Tuy nhiên với Tử th́ khác. Chàng quả quyết rằng trong cơn nguy biến đó, chàng đă được tận mắt thấy Đức Mẹ hiện ra. Đó là giây phút mà chàng run sợ đến ớn lạnh toàn thân. Sau này Tử đă sáng tác bài Ave Maria: "Cho tôi dâng lời cảm tạ pḥ nguy/Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế/Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ/Gịng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ". Chi tiết này càng củng cố cho nhận định của Nguyễn Bá Tín là đúng.

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 9: “Trường thơ loạn”

Từ trái qua phải: Quách Tấn, Nguyễn Đ́nh, Chế Lan Viên năm 1941.
Những vần thơ Chế làm ra đă khiến Tử kinh ngạc. Đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đă t́m ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn.Quy Nhơn - B́nh Định là vùng đất thiêng. Năm trăm năm trước, vùng đất này là chiến trường đẫm máu. Một vương triều sụp đổ, bao nhiêu chiến binh tử trận. Thành Đồ Bàn ngày nào c̣n lại một dăy g̣ sỏi mênh mông với những tháp Chàm đổ nát. Từ xưa, nhiều thi sĩ khi qua đây đă cảm xúc bật ra những vần thơ thống thiết.

Vào những năm 1930 - 1945, Quy Nhơn - B́nh Định bỗng trở thành vùng đất cực thịnh của văn chương nghệ thuật. Thật kỳ lạ, nơi đây tập trung toàn những thi sĩ tầm cỡ. Thuở ấy, có cậu học tṛ nhút nhát thích làm thơ tên là Phan Ngọc Hoan. Đắm ḿnh trong không gian huyền hoặc của cơi Đồ Bàn, Hoan đă đặt cho ḿnh cái tên Chế Lan Viên rồi khóc than người đă khuất bằng tập thơ Điêu tàn với những câu thơ thật lạ lùng: "Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận/Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang/Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận/Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn".

Năm 1936, từ Sài G̣n trở lại Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đă gặp Chế Lan Viên. Chế t́m đến Tử như t́m đến một ông thầy dạy làm thơ. Thế nhưng những vần thơ của Chế đă khiến Tử kinh ngạc: "Chiều hôm nay bỗng nhiên ta lạc bước/Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn/Hơi người chết tỏa đầy trong gió lướt/Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ xanh non/Trên một nấm mồ tàn ta nhặt được/Khớp xương ma trắng tựa năo cân người/Tủy đă cạn nhưng vẫn đầm hơi ướt/Máu tuy khô c̣n đượm khí tanh hôi". Trước đó, Hàn Mặc Tử đă nghiên cứu rất kỹ về trường phái thơ tượng trưng của Pháp. Chàng mong muốn tạo ra một trường phái thơ cho riêng ḿnh. Giờ đây Chế đă làm lóe lên trong đầu Tử cái mà lâu nay chàng đi t́m nhưng chưa thấy. Trước đó, khi Yến Lan hoàn thành bản thảo tập Giếng loạn, Tử đă mơ hồ nghĩ đến một thứ thơ "không giống ai". Bây giờ đọc thơ của Chế, Hàn Mặc Tử đă t́m ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn. V́ vậy ngay trong ngày Chế Lan Viên và Yến Lan đem bản in đặc biệt của tập Điêu tàn đến cho chàng xem, chàng hồ hởi công bố ngay việc thành lập “Trường thơ loạn”.

Từ đó, dưới ngọn cờ của chủ soái Hàn Mặc Tử, các thành viên trong “Trường thơ loạn” say sưa sáng tác. Có những đêm cả bọn đem chăn màn ra bờ biển ở lại suốt đêm để thả hồn theo những vần thơ kỳ dị. Thơ của các thi sĩ “Trường thơ loạn tràn ngập trăng, hồn, máu, bóng ma, sọ người, xương cốt, tinh tủy... Tất cả say sưa bước chân vào cái thế giới rùng rợn đó. Nếu Hàn Mặc Tử thích thú với hồn để viết "Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/Mỗi hồn thơ đều dính năo cân ta/Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/Như mê man chết điếng cả làn da" th́ Chế Lan Viên lại khoái... sọ người hơn: "Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại/Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta/ Để những giọt máu đào c̣n đọng lại/Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ/Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ/Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô".

Việc nhóm thơ B́nh Định cho ra đời “Trường thơ loạn” khiến văn thi hữu khắp nơi bàn tán xôn xao. Nhiều người hoan nghênh nhưng cũng không ít người chê bai. Hoài Thanh kể: "Tôi đă nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn ǵ, toàn nói nhảm ! Có người c̣n nghiêm khắc hơn nữa: Thơ ǵ mà rắc rối thế! Ḿnh tưởng có ư nghĩa khuất khúc ǵ, cứ đọc đi đọc lại hoài, th́ ra nó lừa ḿnh!". Đặc biệt Xuân Diệu là người ghét cay ghét đắng những vần thơ điên của Tử. Hoài Thanh kể tiếp: "Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử khi viết đoạn này: Hăy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”.

Đúng là những vần thơ điên của các thi sĩ này đă gây sốc cho nhiều người. Nhưng thật ra đó chỉ là một cách giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng của ḿnh mà thôi. Hàn Mặc Tử đă dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều những vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng rời bỏ cuộc đời vào năm 1941. Sang năm 1942, đến lượt Bích Khê cũng vĩnh viễn ra đi. “Trường thơ loạn” từ đó tan ră
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007
(1)

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 1: Duyên kỳ ngộ với nhà yêu nước vĩ đại ( Nguồn: Thanh Niên)

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có cuộc đời và số phận hết sức lạ kỳ. Trong hơn nửa thế kỷ qua, rất nhiều cuốn sách, bài báo viết về con người này nhưng dường như vẫn c̣n nhiều điều không thể nói hết. Nhân dịp Đài Truyền h́nh TP.HCM chiếu bộ phim Hàn Mặc Tử, Thanh Niên xin giới thiệu loạt bài tư liệu về nhà thơ này. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh vào giờ th́n ngày 22/9/1912 tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng B́nh. Lúc c̣n nhỏ, chàng đă được người anh đầu là một người rất giỏi thơ Đường luật động viên, hướng dẫn làm thơ, nhờ thế chàng có thể sáng tác thành thạo thơ Đường từ rất sớm. Chính những bài thơ này đă dẫn dắt chàng gặp gỡ nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu. Và cuộc gặp gỡ định mệnh đó đă làm thay đổi cả cuộc đời chàng về sau.

Ấy là vào năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc và đưa về Việt Nam xét xử. Nhưng dưới áp lực đấu tranh đ̣i ân xá của các tầng lớp nhân dân trong nước cũng như dư luận quốc tế, chúng phải đưa nhà yêu nước về giam lỏng ở Huế. Từ đó Phan Bội Châu trở thành Ông già Bến Ngự, sớm tối lấy văn thơ làm vui. Để giao lưu tâm t́nh với bạn hữu và những người đồng chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xă, kêu gọi mọi người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gửi về cho Mộng Du thi xă rất nhiều. Và trong số các bài thơ gửi đến, Phan Bội Châu đặc biệt tâm đắc với ba bài thơ của Hàn Mặc Tử

Chàng đă gửi đến ba bài thơ Đường luật có tên là Thức khuya, Chùa hoang và Gái ở chùa. Đó là vào khoảng năm 1931.

Hàn Mặc Tử năm 12 tuổi.

Những bài thơ của chàng đă xoáy đúng tâm trạng nhà yêu nước. Phan Bội Châu đă họa lại ba bài thơ độc đáo này và cho đăng tất cả trên Báo Tràng An, một tờ báo có nhiều bạn đọc xuất bản ở Huế với lời đề dẫn: "Từ khi về nước đến nay, được nghe nhiều về văn thơ quốc âm, song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng, ấy là thỏa hồn thơ".

Việc xướng họa thơ văn với nhà yêu nước Phan Bội Châu đă làm cho Hàn Mặc Tử, khi đó lấy bút hiệu Phong Trần, nổi tiếng ngay lập tức. Làng văn xôn xao trước sự xuất hiện đầy ấn tượng của một thi sĩ mới. Đặc biệt hơn nữa, tác giả c̣n được Phan Bội Châu tôn xưng là tiên sinh. Tiếp sau đó, Hàn Mặc Tử ra Huế để t́m thăm Phan Bội Châu. Đây là một việc làm hết sức nguy hiểm, v́ thực dân Pháp sẽ chú ư đến tất cả những ai có mối quan hệ mật thiết với nhà yêu nước này. Sau cuộc gặp gỡ, Hàn Mặc Tử thường xuyên liên hệ thư từ với Phan Bội Châu, chàng c̣n gửi thơ của những người bạn khác ra cho ông. Mật thám Pháp sau một thời gian theo dơi, cuối cùng đă quyết định gạt tên chàng ra khỏi danh sách những người được bảo trợ sang Pháp du học. Tiếp đó, Sogny, Chánh sở mật thám Huế gửi công văn vào Quy Nhơn yêu cầu điều tra về chàng. Chánh sở mật thám Quy Nhơn là Véran gọi chàng lên tra hỏi nhiều lần làm cho gia đ́nh hết sức lo lắng. Người anh đầu của chàng phải gửi thư ra Huế nhờ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, một người quen thân với gia đ́nh chàng xưa nay, can thiệp với chính quyền th́ chuyện mới êm.

Không được đi du học, cuộc đời Hàn Mặc Tử rẽ sang một ngả khác. Từ đây, chàng bắt đầu bước chân vào con đường viết báo. Thời gian này, t́nh h́nh kinh tế nói chung rất khó khăn. Nạn thất nghiệp tràn lan. Chàng làm thêm công việc biên chép các tờ trích lục cũ cho Sở Đạc điền Quy Nhơn. Nhưng công việc này chỉ đem đến cho chàng một khoản tiền đủ để mua báo, giấy viết và tem thư gửi bài. Rồi xảy ra cơn băo lớn năm 1934 làm sập căn nhà của chàng đang ở. Nợ nần ập đến. Hàn Mặc Tử quyết định rời Quy Nhơn, vào Sài G̣n lập nghiệp bằng con đường làm báo chuyên nghiệp.

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 2: Nhà báo được nhiều chính khách nể trọng


Hàn Mặc Tử lúc làm báo ở Sài G̣n.
Tháng 7 năm 1934, từ Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử khăn gói lên đường vào Sài G̣n để làm báo theo lời thúc giục, rủ rê của mấy người bạn thân. Sau một thời gian lang thang chờ việc ở Sài G̣n, chàng được mời phụ trách trang văn chương cho tờ báo Trong khuê pḥng...

Chàng vừa sáng tác, vừa biên tập bài vở, lại kiêm luôn việc sửa bản in, v́ thế thu nhập cũng khá. Nhưng chàng luôn cảm thấy áy náy v́ tờ báo mang tên Trong khuê pḥng mà nói chuyện văn chương th́ có vẻ không ổn. Tuy thế, do chủ báo đối xử quá tử tế nên chàng cũng lấy làm vui. Nhưng có một lần, những người bạn của chàng viết bài gây sự với ai đó, bị công kích lại. Trên một tờ báo ở Sài G̣n, trong mục "Câu chuyện tầm phào" có bài viết mỉa mai "những trang nam tử lập nghiệp trong pḥng the", ư nói nhóm làm báo Trong khuê pḥng sống nhờ vào việc khai thác "thông tin khuê pḥng", với nhiều câu mỉa mai rất dung tục khiến chàng bị sốc, không đến ṭa soạn nữa. Chủ bút phải cử người tới nhà trọ của chàng lấy bài và an ủi măi chàng mới trở lại làm việc.

Ở Sài G̣n ít lâu chàng đă trở nên nổi tiếng. Nhiều chính khách kính nể và đến làm quen khi biết chàng từng có mối liên hệ với Phan Bội Châu và bị mật thám Pháp theo dơi. Từ đó chàng quan tâm hơn đến những thông tin chính trị. Chàng định làm một nhà cách mạng chăng? Từ những xướng họa với nhà yêu nước Phan Bội Châu, bỏ qua cả cơ hội quan trọng là sang Pháp du học đến chỗ giao du với các nhân vật chính trị không đơn thuần là những việc làm ngẫu hứng của một chàng thanh niên trẻ tuổi. Nhà báo De Lachevrotière, một nghị viên Pháp lai da màu rất thích t́m chàng để nói chuyện. Qua De Lachevrotière, chàng quen nhiều nhóm chính trị khác nhau. Một số nhóm c̣n bày tỏ thái độ chống Pháp. Tuy nhiên, lâu dần chàng cảm thấy chán nản khi nhận ra những nhóm chính trị này dù hô hào cách mạng nhưng họ chỉ là những con bài của Pháp mà thôi.

Đầu năm 1935, chàng về Huế, trong một đêm buồn lang thang trên bến sông Hương, chàng đă làm bài thơ Đêm khuya tự t́nh với sông Hương để tặng Phan Bội Châu với nhiều tâm sự ray rứt: "Bây giờ chỉ có đôi ta/Bao nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi/Thuở nước non đến hồi non nước/Sông Hương đành xuôi ngược đông tây/Soi ḷng chỉ có đám mây/Đám mây phú quư những ngày lao đao/Sao mặt sông xanh xao ra dáng/Sao t́nh sông lai láng khôn ngăn". Bài thơ được đăng trên báo Công Luận số ra ngày 2/3/1935. Nhiều câu chữ bộc lộ rất rơ ư hướng của chàng: "Mặc ai khanh tướng công hầu/Không thèm chung đỉnh, lưng bầu gió trăng/Sao trời đất đăi đằng ra thế/Sao mưa nguồn chớp bể luôn đêm", "Nhà ai khiêu vũ năm canh/Hơi men sực nức dưới thành đô xưa/Sao tức tối trôi bừa đi măi/Chẳng buồn nghe cô lái thở than/Thuyền em đậu bến Hương giang/Chờ người quân tử lỡ làng t́nh duyên". Đêm khuya tự t́nh với sông Hương mang hơi hướng Trên ḍng Hương giang của Tố Hữu. "Ô hay! Sóng chảy dạt dào/Chiếc thuyền vô định lạc vào bến mê". Hơi thơ tuy ủy mị hơn nhưng t́nh thơ cũng là thế. Hàn Mặc Tử nh́n thế sự bằng con mắt của một người muốn làm một cái ǵ để vỡ tung sự đè nén.

Ngoài việc phụ trách trang văn chương cho tờ Trong khuê pḥng, Hàn Mặc Tử c̣n viết cho khá nhiều báo nên kiếm được nhiều tiền nhuận bút. Ngoài báo tiếng Việt, chàng c̣n viết cho một số báo tiếng Pháp như Impartial, Opinion, La Lutte... Tuy nhiên chàng vẫn luôn thiếu trước hụt sau. Lănh nhuận bút được bao nhiêu cũng bị bạn "mượn đỡ" mà không bao giờ có chuyện trả lại. Thậm chí quần áo cũng để cho bạn bè dùng chung. Mỗi lần từ Sài G̣n về đến Quy Nhơn chàng chỉ c̣n chiếc va-ly trống rỗng. Người em kế của chàng tên Nguyễn Bá Tín kể, có lần vào Sài G̣n thăm anh, chẳng những anh ấy không có tiền cho về xe mà c̣n xin tiền của em ḿnh để tiêu nữa.

Hàn Mặc Tử là một người sống rất v́ bạn. Thời kỳ ở Quy Nhơn chưa vào Sài G̣n làm báo, ngôi nhà của chàng là nơi bạn bè tụ tập đến để chơi đùa, nói chuyện văn chương, chuyện trên trời dưới đất. Nhiều người ăn tại trong nhà chàng nhiều hơn ở nhà ḿnh. Tuy nhiên có một điều đặc biệt, chơi hết ḷng với bạn nhưng không bao giờ theo bạn chơi bời buông thả. Chàng nhất quyết không dính vào những thứ như gái, thuốc phiện. Hoàng Trọng Miên, một người bạn làm báo thân thiết với chàng tiết lộ: "Có cám dỗ anh Trí vào nếp sống buông thả nhưng tâm hồn anh trinh trắng quá, ngay cả đất Sài G̣n ăn chơi tội lỗi này cũng không cám dỗ anh sa ngă được".

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 3: Thực hư quanh chuyện t́nh Mộng Cầm

Mộng Cầm lúc quen Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử quen Mộng Cầm trong thời gian phụ trách trang văn chương cho tờ Trong Khuê Pḥng. Mộng Cầm là cháu gọi Bích Khê bằng cậu, v́ "lây nhiễm tinh thần thơ văn" của ông cậu trẻ tuổi nên cũng tập tành làm thơ gửi đăng báo. Hàn Mặc Tử đă nhận được một số bài thơ như thế của Mộng Cầm gửi đến và từ đó làm quen với Mộng Cầm.

Hai mươi năm sau ngày Hàn Mặc Tử mất, vào năm 1961, nhà thơ Nguyễn Vỹ, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Phổ Thông có ṭa soạn tại Sài G̣n đă cử ông Châu Mộng Kỳ t́m gặp Mộng Cầm để thực hiện bài phỏng vấn về mối t́nh Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm. Nhờ mối quan hệ đặc biệt, ông Châu Mộng Kỳ là thầy dạy con riêng của chồng Mộng Cầm, nên bài phỏng vấn mới thực hiện được. Trước đó nhiều nhà báo đă bị từ chối. Trong bài trả lời phỏng vấn nói trên đăng ở tạp chí Phổ Thông số 63, ra ngày 15 tháng 8 năm 1961, Mộng Cầm đă phủ nhận hoàn toàn chuyện t́nh cảm giữa ḿnh và Hàn Mặc Tử: "Một dịp thứ bảy đi chơi lầu Ông Hoàng, anh thổ lộ mối t́nh với tôi. Tôi có trả lời anh: Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lư do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau, nhưng thật ra v́ biết Hàn Mặc Tử mang chứng bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được, ư tôi muốn một người chồng mạnh khỏe, tráng kiện... Tuy vậy chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật một hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều lần, Hàn Mặc Tử năn nỉ tôi dẫn về Quảng Ngăi thăm nhà và trong nhiều bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi vẫn trả lời, nhưng luôn luôn ngụy biện để từ chối: Em thiết nghĩ chúng ta sống như thế này thanh cao hơn, tôn giáo bất đồng, chữ hiếu bắt buộc em phải nghe lời thân mẫu em".

Bài phỏng vấn này đăng lên, Nguyễn Vỹ cho biết Mộng Cầm đă đọc và không có điều chi thắc mắc và ông kết luận "đă giải đáp dứt khoát một nghi vấn thường bị nhiều người xuyên tạc". Tuy nhiên với độc giả, bài trả lời phỏng vấn của Mộng Cầm đă gây sốc. Bởi mối t́nh Mộng Cầm - Hàn Mặc Tử đă được người đời nâng lên thành huyền thoại. Ngay cả Ngọc Sương, d́ ruột của Mộng Cầm cũng phản đối. Rồi đến Quách Tấn, người đă ủng hộ việc Mộng Cầm đi lấy chồng khi hay tin Hàn Mặc Tử bị bệnh nan y cũng giận dữ trước lời phát biểu này. Quách Tấn viết: "Cuộc t́nh duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, tôi biết rơ lắm. Nhưng tôi chỉ nói những ǵ có thể nói được, nói những ǵ có thể giúp cho bạn đọc hiểu thêm tâm hồn Tử, văn chương Tử mà thôi". Quách Tấn là người đă từng bênh vực việc Mộng Cầm đi lấy chồng làm cho nhà thơ Bích Khê giận ông mấy ngày. Nhưng ông vô cùng tức giận khi Mộng Cầm phủ nhận mối t́nh với Hàn Mặc Tử. Mộng Cầm đă nói thật hay nói dối ? V́ sao nàng lại phủ nhận mối t́nh này ? Thật ra, trong thời gian quen biết với Mộng Cầm, căn bệnh phong của chàng chưa bộc phát. Ngay cả chàng cũng không hề "cảm thấy", làm sao Mộng Cầm có thể "nhận ra". Rất dễ thấy rằng đó là những lời nói dối của một người con gái muốn quên quá khứ để bảo vệ hạnh phúc hiện tại. Một lư do rất thường t́nh và đáng thông cảm. Mối t́nh Hàn Mặc Tử - Mộng Cầm đă được rất nhiều người gần gũi xác nhận. Trần Thanh Mại, một người bạn của chàng đă công bố những chi tiết của mối t́nh này trong cuốn sách Hàn Mặc Tử xuất bản năm 1942. "Ấy là câu chuyện một đôi trai tài gái sắc yêu nhau, câu chuyện muôn đời ấy mà! Người con trai là Hàn Mặc Tử, người con gái, ta cứ theo nhà thi sĩ mà gọi là Mộng Cầm đi, mặc cái tên thực của họ. Hai bên đă thề nguyền cùng nhau những lời mà ta hiểu là thiết tha đằm thắm lắm. Thường thường th́ họ hay gặp nhau ở hai tỉnh: Qui Nhơn và Phan Thiết. Họ đưa nhau đi chơi bờ bể, họ đi viếng các danh lam thắng cảnh, nhất là lầu Ông Hoàng. Rồi họ xa nhau. Họ nhớ nhau, và tặng ảnh cho nhau. Họ coi như một cặp vợ chồng chưa cưới".

Hàn Mặc Tử đă sáng tác nhiều bài thơ đầy nước mắt về mối t́nh này. Trong bài Muôn năm sầu thảm, chàng đă kêu tên nàng lên một cách thảm thiết: "Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm / Nhớ thương c̣n một nắm xương thôi". Bài Phan Thiết Phan Thiết, chàng nhắc tới những kỷ niệm xưa về lầu Ông Hoàng, nơi chàng và Mộng Cầm từng dạo chơi thuở nào: "Ta lang thang t́m tới chốn lầu Trăng/Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang/Nơi đă khóc, đă yêu thương da diết/Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết!/Mà tang thương c̣n lại mảnh trăng rơi".

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 4: Hoàng Cúc - nàng thơ bí ẩn

Hoàng Cúc trong trang phục nữ y tá t́nh nguyện năm 30 tuổi.
Hoàng Cúc là người liên quan đến bài thơ t́nh đẹp nhất trong kho tàng thơ ca Việt Nam: Bài thơ thôn Vỹ. Nàng tên thật là Hoàng Thị Kim Cúc, sinh ngày 5/12/1913, kém Hàn Mặc Tử 1 tuổi.
Cũng như Hàn Mặc Tử, nàng phải theo gia đ́nh vào Quy Nhơn sinh sống v́ cha nàng là công chức, làm việc tại Quy Nhơn. Năm 1933, Tử vào làm cho Sở Đạc điền Quy Nhơn và quen Hoàng Tùng Ngâm - em thúc bá của Hoàng Cúc. Hoàng Tùng Ngâm sống trong ngôi nhà nhỏ cạnh nhà Hoàng Cúc, anh em bè bạn thường tụ tập để chơi đùa, b́nh phẩm văn thơ. Hoàng Cúc khi đó cũng đang tập tành viết báo làm thơ với bút hiệu Hoàng Hoa nữ sĩ nên cũng quen biết Hàn Mặc Tử.

Với bản tính đa t́nh, Hàn Mặc Tử đă đem ḷng si mê Hoàng Cúc. Chàng đă làm một số bài thơ tặng nàng như bài Vịnh hoa cúc, Trồng hoa cúc... Một số bài đă đến tay Hoàng Cúc qua Hoàng Tùng Ngâm. Hoàng Cúc biết rất rơ t́nh cảm của chàng.

Rồi Hàn Mặc Tử vào Sài G̣n làm báo. Sau một thời gian, chàng về lại Quy Nhơn. Lúc này gia đ́nh chàng đă dời đến cách nhà Hoàng Cúc chỉ vài căn. T́nh xưa dậy sóng trở lại. Giờ đây, chàng đă ít nhiều bạo dạn hơn trước. Hàn Mặc Tử sáng tác bài Hồn cúc: "Bấy lâu sát ngơ, chẳng ngăn tường/Không dám sờ tay sợ lấm hương/Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá/Muốn ôm hồn cúc ở trong sương".

Năm 1936, Hoàng Cúc theo gia đ́nh về Huế sinh sống. Sau đó, nàng bắt đầu ăn chay trường, trở thành cư sĩ, sống cuộc đời lặng lẽ bí ẩn. Cũng trong năm đó, Hàn Mặc Tử in tập thơ Gái quê, là tập thơ mới đầu tiên kể từ khi chàng bỏ làm thơ Đường luật. Chàng mang theo một số tập Gái quê ra Huế. Và chàng đă gặp lại Hoàng Cúc trong một dịp hội chợ nhưng không dám tặng thơ cho nàng. Chàng cũng t́m đến Vỹ Dạ - nơi ở của Hoàng Cúc - nhưng chỉ đứng ngoài cổng một lúc rồi bỏ đi.

Nhiều năm sau đó, giữa hai người không có liên lạc ǵ với nhau. Một hôm Hoàng Cúc nghe tin chàng bị bệnh phong, nàng liền gửi thư cho chàng. Và chàng đă cảm động sáng tác bài Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng nàng.

Chuyện t́nh Hoàng Cúc - Hàn Mặc Tử cũng có những điều gây tranh căi như trường hợp Mộng Cầm. Bởi Hoàng Cúc đă có lần công khai phủ nhận chuyện nàng có t́nh cảm với Hàn Mặc Tử. Đó là vào năm 1969, nhà thơ Quách Tấn, người bạn thân thiết của Hàn Mặc Tử đă viết một hồi kư lấy tên là Đôi nét về Hàn Mặc Tử đăng trên tạp chí Văn, trong đó có phần nói đến mối quan hệ giữa Hoàng Cúc và Hàn Mặc Tử. Quách Tấn cho rằng hai người không thành duyên nợ là do thân sinh của Hoàng Cúc chê Hàn Mặc Tử không xứng. Hoàng Cúc đă đọc được hồi kư này và ngày 15/3/1971, nàng gửi thư cho Quách Tấn để "nói lại cho rơ". Hoàng Cúc đă phản bác một số chi tiết nhỏ mà Quách Tấn nêu ra và cuối cùng nói về mối quan hệ của ḿnh với Hàn Mặc Tử: "Hồi ấy tuy Tử ở gần nhà tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi. Tử th́ kín đáo và bẽn lẽn như con gái, c̣n tôi th́ bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đă t́m cách để gặp, nhưng vẫn chưa toại nguyện..."

Thế nhưng Quách Tấn kiên quyết bảo vệ lập trường của ḿnh trong các chi tiết thể hiện việc Hàn Mặc Tử và Hoàng Cúc có yêu nhau: "C̣n về những chi tiết trong cuộc t́nh duyên của Tử - Cúc, th́ nhất định kư ức tôi không phản tôi, v́ không có ǵ phức tạp khó nhớ. Việc Tử nhờ người đến dạm là việc có thật. Người ấy là nhà thầu khoán Bùi Xuân Lang ở Quy Nhơn, vừa thân với Tử, vừa quen với cụ Hoàng Phùng".

Hiểu như thế nào về chuyện này? Theo chúng tôi, Hoàng Cúc ngày ấy là một thiếu nữ trẻ trung yêu đời, lại ít nhiều có tâm hồn văn chương th́ việc đáp lại những t́nh cảm của một người như Hàn Mặc Tử là có thể xảy ra. Nhưng sau này cũng như Mộng Cầm, nàng đă cố gắng chôn chặt những điều thầm kín riêng tư vào cơi ḷng. Là một người xa lánh cuộc đời để t́m đến cơi thiền, th́ những chuyện t́nh cảm dù có cũng không thể phơi bày cho công chúng biết. Cho nên việc Hoàng Cúc phủ nhận chuyện có đáp lại t́nh cảm với Hàn Mặc Tử là điều dễ hiểu. Nguyễn Bá Tín cho biết tại nhà riêng của Hoàng Cúc, khi đă quy y, nàng vẫn "dành riêng một căn pḥng ngày đêm hương hoa tụng niệm, tưởng nhớ mối t́nh bất diệt của anh mà cũng là t́nh đầu của chị".

Mối t́nh Hàn Mặc Tử - Hoàng Cúc như là khói sương bảng lảng. Nàng thực sự là một nàng thơ hơn là một người t́nh để chàng có thêm thi hứng mà thôi.

Hàn Mặc Tử - nhà thơ có số phận kỳ lạ - Kỳ 5: Đây thôn Vỹ Dạ - bài thơ nhiều ẩn số

Bến đ̣ Vỹ Dạ
Năm 1936, Hàn Mặc Tử từ Sài G̣n trở lại Quy Nhơn. Lúc này thân phụ Hoàng Cúc về hưu nên gia đ́nh phải dọn về Huế. Cũng trong năm đó, chàng bắt đầu phát hiện những dấu hiệu của căn bệnh phong, nhưng chàng vẫn chưa quan tâm đến nó. Một thời gian rất lâu, căn bệnh mới phát mạnh.
Năm 1939, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới ṿm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc.

Chi tiết trên là theo Nguyễn Bá Tín. C̣n theo nhiều tác giả khác th́ Hoàng Cúc không gửi ảnh ḿnh mà gửi một tấm bưu ảnh có mây nước, có chiếc đ̣ ngang với cô gái chèo đ̣, có khóm tre, có cả ánh trăng hoặc là ánh nắng chiếu xuống. Một thời gian sau, nàng nhận được thư của Hàn Mặc Tử. Kèm theo bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ gửi tặng, Hàn Mặc Tử viết: "Túc hạ! Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay là một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm, muôn vàn cảm tạ. Túc hạ c̣n nhớ đến người năm xưa, thế là phúc phận lắm rồi. Mong ơn trên xuống độ cho túc hạ thật đầy và mong rằng một mùa xuân nào đấy sẽ gặp lại được túc hạ cho phỉ dạ. Thăm túc hạ b́nh an vui vẻ".

Đây thôn Vỹ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất của Hàn Mặc Tử trong tập thơ Điên. Bởi lúc này chàng đang trong thời kỳ bệnh tật, đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn tâm hồn. Thơ của chàng luôn luôn là những gào thét uất hận, nghẹn ngào. Bài thơ này, Nguyễn Bá Tín cho biết nguyên cái tựa ban đầu của nó là Ở đây thôn Vỹ Dạ. Nhưng về sau đă được biên tập lại, bỏ đi chữ Ở. Trong bài thơ, h́nh ảnh hàng cau được nhiều người khen ngợi, nhưng lại đem đến thắc mắc cho chính người được tặng thơ là Hoàng Cúc. Nàng đă không hiểu v́ sao Hàn Mặc Tử lại viết câu thơ "Sao anh không về chơi thôn Vỹ/Nh́n nắng hàng cau nắng mới lên". Thôn Vỹ Dạ, nằm bên kia Đập Đá, cư dân ở đây phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu. Kế thôn Vỹ Dạ là thôn Nam Phổ, một thôn b́nh dân, sống bằng nghề trồng cau. "Mua vôi chợ Quán chợ Cầu. Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh". Cau Nam Phổ nổi tiếng khắp cả nước. Hằng năm đến mùa cau, già trẻ gái trai trong làng đều có thể trèo cau, hái cau để bán. Các cô gái Nam Phổ nổi tiếng trèo cau giỏi. V́ thế có câu "Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau". Những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ bị xếp vào diện câu ví đó. Và v́ thế ít ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ. Như vậy, th́ v́ sao Hàn Mặc Tử lại lấy h́nh ảnh cây cau như là một biểu tượng cho thôn Vỹ Dạ?

Bài thơ cũng tạo ra rất nhiều sự khó hiểu đối với độc giả trong các chi tiết khác. Chẳng hạn mấy câu thơ "Mơ khách đường xa, khách đường xa. Áo em trắng quá nh́n không ra" và "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Ai biết t́nh ai có đậm đà?". Có nhiều ư kiến lư giải khác nhau, trong đó thậm chí có người cho rằng khổ thơ này chỉ những nàng kỹ nữ sông Hương như trên báo Giáo Viên Nhân Dân số tháng 1/1990. Theo ư kiến một số người, h́nh ảnh "áo trắng nh́n không ra" là do Hoàng Cúc mặc chiếc áo dài màu trắng mà tấm h́nh cũ quá nên Hàn Mặc Tử không thấy rơ. C̣n "sương khói mờ nhân ảnh" th́ Nguyễn Bá Tín cho rằng có thể là Hàn Mặc Tử muốn nói đến đời sống khói nhang cơi thiền của Hoàng Cúc.

Ngày tháng ra đời của bài thơ cũng gây bàn căi. Trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật số ra ngày 7/1/1990, tác giả Đào Quốc Toàn viết: "Bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ chỉ có thể được viết trong khoảng 1936-1937 chứ không thể viết vào năm 1939 được, bởi v́ bài thơ này được Hàn Mặc Tử tập hợp lại ở tập Đau thương trong thời gian cuối 1937 đầu 1938. Tập thơ này gồm khoảng 50 bài thơ, lúc đầu lấy tên là Thơ điên".

Đây cũng là vấn đề khó làm sáng tỏ. Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ này trong thời điểm nào? Nếu căn cứ vào trí nhớ của Hoàng Cúc th́ bài thơ ra đời vào năm 1939. Trong thư gửi cho Quách Tấn vào ngày 15/10/1971, Hoàng Cúc viết: “Vào khoảng hè 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử mắc bệnh nan y, và khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, để an ủi một tâm hồn đă vô cùng đau khổ. Thay v́ viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đ̣ ngang với cô gái chèo đ̣, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử mà không kư tên, rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ...".
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.