Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Chu Văn An
Topic Started: Jul 28 2006, 09:11 AM (843 Views)
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Chu Văn An (người thầy mẫu mực)

Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Trần văn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong.

(Cuối Trần đó là thời nào, ngâm vịnh rong chơi đâu phải thú vui hiền giả.

Non phượng c̣n dấu nơi ẩn, núi sông măi măi ngắm nh́n phong cách triết nhân).

Đó là đôi câu đối mà người đời măi măi c̣n truyền tụng để tỏ ḷng mến phục đối với Chu Văn An - nhà Nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối thời Trần.

Chu Văn An tên hiệu là Tiều ẩn, tên chữ là Linh Triệt, người làng Văn Thôn, xă Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Tŕ - Hà Nội). Theo thần tích đ́nh làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm thành hoàng, th́ ông sinh năm Nhâm Th́n (1292) và mất năm Canh Tuất (1370).

Chu Văn An ngay từ hồi c̣n trẻ đă nổi tiếng là một người cương trực, sửa ḿnh trong sạch, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Khi thi đỗ Thái học sinh, ông không ra làm quan, mà trở về mở trường dạy học ở quê nhà. Học tṛ nhiều nơi t́m đến theo học rất đông. Trong số môn đệ ông có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát khi về thăm thầy vẫn giữ lễ, được thầy nói chuyện ít lời th́ rất lấy làm mừng. Có những học tṛ cũ không tốt, ông thẳng thắn quở trách, thậm chí quát mắng không cho gặp. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao và học vấn sâu rộng làm cho tiếng tăm ông ngày càng lan xa. Đức độ và uy tín của ông như vậy, khiến cho học tṛ đến theo học càng nhiều và có đủ các loại.

Một huyền thoại vẫn được lưu truyền nói về ngôi trường và nhân cách, đạo đức của ông như sau: "Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học tṛ t́m đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rơ tông tích ở đâu. ông bèn cho người ḍ xem th́ cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn h́nh vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ , Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) th́ biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các tṛ lại hỏi xem ai có tài th́ làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học tṛ kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: "Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đ́nh, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện ǵ không hay, mong thầy chu toàn cho". Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học tṛ làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn c̣n dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đă biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Th́ Sĩ, Ngô Th́ Nhậm, v.v... Trong đền thờ thần c̣n đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này.

Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận.

Chu đ́nh lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô.

( Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải.

Mưa tốt giữa sân son đổ xuống, ngh́n cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa).

(Chu đ́nh có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, chỉ Chu Văn An).

Câu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại về Chu Văn An để nói rằng tài đức của họ Chu có sức mạnh cảm hóa được cả quỷ thần. Tuy nhiên, qua đó cũng thấy được đức độ của Chu Văn An lúc đương thời là rất lớn.

Đến đời vua Trần Minh Tông, ông được mời vào làm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám để dạy Thái tử học. Ông đă cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào công việc củng cố triều đ́nh lúc đó đang đi dần vào con đường khủng hoảng, suy thoái. Đến đời Dụ Tông, chính sự càng thối nát, bọn gian thần nổi lên khắp nơi. Chu Văn An nhiều lần can ngăn Dụ Tông không được, bèn dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần, đều là người quyền thế được vua yêu. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng trong lịch sử. Nhà vua không nghe, ông bèn "treo mũ ở cửa Huyền Vũ" rồi bỏ quan về ở ẩn tại núi Phương Sơn thuộc làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Hưng) lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi). Sau ông mất tại đó.

Theo thư tịch cũ th́ Chu Văn An viết nhiều sách, ông đă để lại cho đời sau những tác phẩm: hai tập thơ Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều ẩn thi tập bằng chữ Hán. Ông c̣n viết một cuốn sách biện luận giản ước về Tứ thư nhan đề Tứ thư thuyết ước. Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây th́ Chu Văn An c̣n là một nhà đông y đă biên soạn quyển Y học yếu giải tập chu di biên gồm những lư luận cơ bản về chữa trị bệnh bằng Đông y. Khi ông mất, vua Trần đă dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Vua c̣n ban tặng tên thụy cho ông là Văn Trinh. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đă thích nghĩa hai chữ "Văn Trinh" như sau: (Văn, đức chi biểu dă; Trinh, đức chỉ chính cổ dă. Văn là sự bên ngoài (thuần nhất )của đức; Trinh là tính chính trực, kiên định của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đă kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhă, hiền ḥa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đă giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đă vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đă ngợi ca ông: "học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có ḿnh ông, các ông khác không thể so sánh được".

Ngày nay, để tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhân dân Thủ đô đă lấy tên ông để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội. Đó là phố Chu Văn An và Trường phổ thông Trung học Chu Văn An. Phố Chu Văn An, nguyên là đại lộ Van Vôlenhôven thời Pháp thuộc, đi từ đường Điện Biên Phủ đến phố Nguyễn Thái Học. C̣n Trường trung học Chu Văn An nằm trên đường Thụy Khuê ngay ven Hồ Tây, nơi lưu truyền đầy những giai thoại và truyền thuyết cổ xưa. Trường này nguyên trước là Trường cao đẳng tiểu học Bảo hộ (collège du protectorat) do thực dân Pháp lập từ năm 1907 để chống lại phong trào Đông kinh Nghĩa thục, nhưng nhân dân ta thường vẫn quen gọi là Trường Bưởi.

Năm 1945, , các nhà giáo và nhân dân Hà Nội đă nhất trí chọn tên nhà giáo dục mẫu mực Chu Văn An đặt tên cho trường.


II Danh sư Chu Văn An

Chu Văn An (? - 1370), tên chữ là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ân, người huyện Thanh Tŕ Hà Nội. Đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan mà ngồi dạy học. Học tṛ theo học rất đông, nhiều người đỗ đạt cao: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát...

Vào niên hiệu Khai Thái (1324-1329) triều Trần Minh Tông, Chu Văn An được vời vào cung vua dạy con vua (Trần Vượng) rồi dạy vua (Hiến Tông) và làm Tư Nghiệp Quốc Tử giám (như chức Hiệu phó đại học bây giờ). Đến triều Trần Dụ Tông (1341-1369) th́ xă hội nhiễu nhương lắm. Dụ Tông là tay ăn chơi thích tửu sắc hát xướng. Cận thần là lũ bất tài o bế vua để lộng hành. Dân t́nh đói khổ. Chu Văn An vốn điềm đạm, ít ham muốn, nhưng lại thẳng thắn ngạch trực (chữ của Hồ Nguyên Trừng), nh́n trung thần nghĩa sĩ bị hăm hại, các quan Ngự sử chuyên việc can vua giờ chỉ biết ngồi im ăn lộc (ai có ư định can vua, gia đ́nh phải phát tang làm ma sống rồi mới vào triều), ông đă dâng Sớ xin chém bảy gian thần. Sớ Thất Trảm ấy nay không c̣n lưu giữ, ngay đương thời cũng ít người được đọc nên không biết ông xin chém những ai.

Trường Chu Văn An (trường Bười) - Hà Nội xưa.

Có thể Dụ Tông muốn tránh rắc rối cho triều đ́nh và giữ yên cho Chu Văn An nên đă hủy Sớ đó đi. Dù thế, Thất Trảm Sớ đă gây chấn động dư luận, nói như người xưa: làm kinh động quỷ thần, và trở thành biểu tượng chói sáng của thái độ trí thức trước thời cuộc, của bản lĩnh Chu Văn An. Theo Phan Huy Chú, Chu Văn An có hai tập thơ, một Hán: "Tiểu ẩn thi tập"; một Nôm: "Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập" và một bộ giáo tŕnh "Tứ thư thuyết ước". Nhưng hiện nay chỉ c̣n 12 bài thơ chữ Hán, Phan Huy Chú nhận xét: "Lời thơ trong sáng u nhàn". Đây là thơ Chu Văn An viết khi lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương. Nói chung thơ các ẩn sĩ thường có phong vị u nhàn. Nhưng với Chu Văn An u nhàn chỉ là ở cái giọng thơ. Thơ ông chịu ảnh hưởng của đạo Phật như nhiều nhà thơ thời ấy, nhưng chủ yếu hơn, ông rất trông vào hiện thực, tin vào sự chiêm nghiệm của ḿnh, không thiên kiến, không theo những nếp nghĩ có sẵn. Thấy cá th́ nói cá, thấy mây th́ nói mây, chứ không theo thói thường các ẩn sĩ nói mây th́ lại tả hạc, nói ao lại tả rồng, trong khi chẳng thấy rồng đâu, hạc đâu:

Cá bơi trên ao cũ, rồng ở chốn nào

Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về

(dịch nghĩa bài "Miết Tŕ") Chính v́ phương pháp suy nghĩ ấy nên khi thơ ông ca ngợi sự lánh đời, chúng ta lắng nghe vẫn thấy ở phía sau một nỗi niềm không thoát tục. Ông viết:

Thân cùng mây tẻ quyến luyến hốc núi

Ḷng cùng giếng cổ chẳng hề gợn sóng.

Nhưng chính ông cũng lại viết:

Tấc ḷng chưa lạnh như tro đất.

Trường Chu Văn An - Sài G̣n

Ông ở ẩn là do t́nh thế bắt buộc, sau Thất Trảm Sớ làm sao ông c̣n ở kinh đô được. Ông ở ẩn mang theo một chí nguyện không thành, muốn giúp đời mà không giúp được, chứ đâu phải v́ ham thú tiêu dao. Ca ngợi hạc nội mây ngàn cũng chỉ là cách tự an ủi. Hướng ḷng về thiên nhiên chỉ để dịu nỗi buồn nhân thế. Nhiều lúc ông không giấu được xót xa:

Công danh trót lạc vào hư ảo

Hồ hải rong chơi bớt nỗi sầu

Đôi lúc ta đọc được ở ông sự day dứt rất đáng cảm thông:

Nhà ngói, lều tranh đều có số

Đục Kinh, trong Vị chẳng cùng xuôi

Nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong không thể cùng ḍng! Ở ẩn Chu Văn An vẫn rạch ṛi thế sự.

Bài thơ về lăng vua Trần Anh Tông, Vương Thái Lăng càng cho thấy cơi ḷng không yên ổn của ông. Chu Văn An không nguôi nỗi khắc khoải; mấy lần ngập ngừng đi rồi lại kỳ đô trù trừ, hành phục hành. Chúng ta hiểu v́ sao khi Trần Nghệ Tông lấy lại ngôi vua từ Dương Nhật Lễ, ông đă chống gậy về triều mừng chúc. Ông lánh thân nhưng ḷng vẫn ở giữa đời.

III NHỮNG BÀI THƠ HÁN VIỆT CỦA CHU VĂN AN

Giang Đ́nh Tác

Giang đ́nh độc lập sổ quy châu
Phong cấp than tiền nhất địch thu .
Tà nhật ngâm tàn hồng đạm đạm,
Mộ thiên vọng đoạn bích du du .
Công danh dĩ lạc hoang đường mộng
Hồ hải lưu vi hăn mạn du .
Tự khứ tự lai hồn bất quản,
Thương ba vạn khoảnh tiện phi âu . Làm Thơ Ở Trạm Quán Ven Sông

Bến sông đón cánh buồm về,
Ghềnh thu gió lộng như nghe sáo diều .
Thơ ngâm, bảng lảng bóng chiều,
Ngắm trời biếc ngả dần theo hôn hoàng .
Công danh, giấc mộng hoang đường ,
Lăng du mơ thú bốn phương hải hồ .
Ở đi mặc ư nào lo,
Sóng xanh muôn lớp bay đùa cánh âu .



Miết Tŕ


Thuỷ nguyệt kiều biên lộng tịch huy
Hà hoa hà diệp tịnh tương y .
Ngư du cổ chiểu long hà tại ?
Vân măn không sơn hạc bất quy .
Lăo quế tuỳ phong hương thạch lộ ,
Nộn đài trước thuỷ một tùng phi .
Thốn tâm thù vị như hôi thổ ,
Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy . Ao Rùa


Bên cầu trăng nước tịch dương
Lá hoa sen lặng tựa nương giữa hồ .
Rồng đâu ? Ao cũ cá đùa
Mây đầy núi vắng hạc chưa trở về
Quế thơm đường đá gồ ghề,
Nước đầm rêu biếc như che cổng tùng .
Phải đâu tro đất lạnh lùng,
Nhắc đời vua trước lệ ḷng thầm rơi .


XUÂN ĐÁN


Tịch mịch sơn gia trấn nhật hàn
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn
Bích mê thảo sắc thiên như tuư
Hồng thấp hoa sao lộ vị can
Thân dử cô vân trường luyến tụ
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan
Bách huân bán lảnh trà yên yết
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn

BUỔI SÁNG ĐẦU XUÂN

Nhà trên núi vắng thảnh thơi,
Cửa phên, nghiên chắn, làn hơi lạnh về.
Trời xanh, cỏ biếc, lê thê,
Đầu cành hoa đỏ, đầm đ́a hạt sương.
Thân cùng mây trắng vấn vương,
Ḷng như giếng cổ chẳng thường gợn tăm.
Hương tàn, trà nguội, mấy tuần
Chim khe lảnh lót, kêu xuân, mộng tàn.

Linh sơn tạp hứng

Vạn điệp thanh sơn thốc họa b́nh,
Tà dương đảo quải bán khê minh.
Thúy la kính lư vô nhân đáo,
Sơn thước đề yên thời nhất thanh.

Vịnh cảnh núi Chí Linh

Núi non trùng điệp như che,
Tà dương hắt ánh bờ khe sáng ngời .
Đường quanh cỏ biếc vắng người,
Tiếng chim khách núi đôi hồi kêu mây .

Nhật tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính

Hoăn hoăn bộ tùng đê,
Cô thôn đạm á mê,
Triều hồi giang địch quưnh,
Thiên khoát thụ vân đê
Túc điểu phiên thanh lộ,
Hàn ngư dược bích khê .
Xuy sinh hà xứ khứ,
Tịch mịch cố sơn tê .

Chiều hôm dạo bước trên bờ thông núi Tiên Du

Đường thông lững thững ven bờ,
Xóm xa hẻo lánh lờ mờ khói che .
Nước ṛng sáo vẳng sông quê ,
Trời cao mây thấp lè tè ngọn cây .
Xuyên mù về tổ chim bay
Cá e đầm lạnh nhảy đầy khe trong .
Tiếng sênh đâu nữa bên rừng
G̣ tây núi cũ một vùng đ́u hiu ...
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Về thôn Văn nghe chuyện cụ Chu


Cty giấy Trúc Bạch, một trong những doanh nghiệp trên đất Thanh Liệt

Thôn Văn nằm ở cuối xă Thanh Liệt (Thanh Tŕ) phía Nam giáp tỉnh lộ 70, sông Tô Lịch là ranh giới tự nhiên giữa thôn Văn với các thôn khác của xă ở phía Bắc. Theo cổ sử, thôn Văn c̣n có tên Văn Xá, trang Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, tỉnh Sơn Nam. Và Văn Xá chính là quê hương của Chu Văn An (1292-1370) một trong những Danh nhân văn hóa lớn, nhà sư phạm uyên thâm, lỗi lạc của dân tộc thế kỷ 13-14.

Theo cuốn “Lịch sử truyền thống cách mạng xă Thanh Liệt” và lời kể của ông Chu Tiến Tài, 63 tuổi, hậu duệ đời thứ 26 họ Chu, th́: “Thuở nhỏ, Chu Văn An đă thể hiện tính cương giới, thanh tu khổ tiết, không ham danh lợi, học giỏi, hiểu sâu, biết rộng. Năm 12 tuổi đỗ “Thái học sinh”. 16 tuổi đỗ “Đ́nh Thí” (khoa Thi đ́nh) rồi mở trường dạy học ở thôn Huỳnh Cung (giáp thôn Văn). Học tṛ của thầy Chu đông tới 3.000 người, có tṛ từ Kinh Bắc, Sơn Nam, Châu Hồng, Châu Hoan đến “chật cả cửa” xin học. Nhiều người từng đỗ đạt cao, được bổ làm quan như Cao Bá Quát, Phạm Sư Mạnh... Năm 26 tuổi, Chu Văn An được vua Trần Minh Tông phong chức Gián quan và được mời dạy Thái tử Vượng. Sau khi Thái tử lên ngôi, Chu Văn An được thăng lên Tư nghiệp Quốc Tử Giám (hiệu trưởng). Khi Trần Hiến Tông mất (mới 23 tuổi), Trần Dụ Tông lên ngôi. Từ đây chính sự chao đảo, dân t́nh loạn lạc, bọn gian thần xu nịnh thừa cơ thao túng việc triều chính. Thầy Chu đă ra sức can ngăn, nhưng vua không nghe, nội t́nh càng thêm rối bời. Không thể im lặng măi, thầy Chu liền dâng vua “Thất trảm sớ”, đ̣i chém 7 tên quan tham, nhưng không được chấp thuận, ông liền trả mũ áo, từ quan về quê tiếp tục dạy học. Khoảng năm 1360, thầy Chu đi văng cảnh vùng Chí Linh (Hải Dương) thấy đẹp cảnh, đẹp người mà lưu lại, ở ẩn bên núi Phượng Hoàng, lấy hiệu là “Tiều ẩn”, mở trường dạy học và làm thuốc nam.

Đă vài lần vua Dụ Tông mời Chu Văn An về tham chính nhưng ông đều từ chối khéo. Năm 1369, Dụ Tông mất, Dương Nhật Lễ cướp ngôi. Trần Phủ, con Dụ Tông đă cùng Trần Nguyên Đán khởi binh, phế truất Nhật Lễ. Trần Phủ (Trần Nghệ Tông) lên ngôi. Thầy Chu chống gậy về kinh chúc mừng, vua rất cảm kích. Do tuổi cao, sức yếu, ngày 26-11 năm Canh Tuất (1370) thầy giáo Chu Văn An tạ thế tại xă Văn An, Chí Linh, thọ 78 tuổi. Sau khi ông mất, vua ban tên thụy là Văn Trịnh Công, được đặc ân ṭng tự trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ngang hàng với các bậc tiên nho. ở Chí Linh, mộ Chu Văn An được xây trên lưng chừng núi Phượng Hoàng, có đền thờ, bia đá khắc “Chu Văn Trinh tiên sinh ẩn cư xứ”. ở thôn Văn và xă Thanh Liệt hiện nay có 2 nơi thờ: Miếu Thổ Kỳ (thờ cả mẫu thân và cụ Chu), Đ́nh Nội có tên “Tiên triết Chu Văn An” xây ở trung tâm xă. Trong đ́nh có tượng cụ Chu và hai hậu duệ: Chu Tam Tỉnh, đỗ Tiến sĩ năm 1431. Chu Đ́nh Bảo, đỗ “Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ” năm 1484.

Thôn Văn hôm nay đă đổi khác rất nhiều. Cả thôn chỉ có 328 hộ, gần 2.000 nhân khẩu, sống chủ yếu bằng trồng trọt, chăn nuôi nhưng không c̣n hộ đói, nghèo. Theo ông Tài, đă có 65% hộ xây nhà kiên cố, 100% nhà có xe gắn máy, 100% tivi màu, 70% gia đ́nh lắp máy điện thoại cố định, di động. Ngoài lúa, ở đây c̣n trồng vải quả (vải làng Quang vốn được dùng để tiến vua thuở xưa), dưa chuột xuất khẩu. Vải, dưa được coi là đặc sản của làng, từng đi vào ca dao:


Vải Quang, húng Láng, ngổ Đăm

Cá rô đầm Sét, Sâm cầm Hồ Tây

Chừng mấy chục năm gần đây, thôn Văn c̣n trồng đậu Hà Lan một loại rau cao cấp.


Qua tâm sự với ông Tài, họ Chu ở thôn Văn chỉ c̣n hơn 30 gia đ́nh. Ông nói: “Tôi được nghe kể và thực tế có thể chấp nhận được, rằng sau khi cụ Chu dâng “Thất trảm sở” không thành, nhiều gia đ́nh họ Chu phải bỏ làng đi nơi khác để tránh họa...”. Th́ ra vậy.

Gần đây, một tin vui đối với thôn Văn và đồng bào cả nước: UBND thành phố Hà Nội đă có “Dự án xây dựng Khu di tích lịch sử, văn hóa Chu Văn An”, rộng 30 ha, giữa trung tâm xă Thanh Liệt. Đây là công tŕnh “Chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”.

...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

THỜI KỲ TỰ CHỦ QUA CÁC TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN (từ 1225 đến 1400)



TRẦN THÁI TÔN vời TRẦN THỦ ĐỘ giúp dựng nghiệp Vua

NHÀ TRẦN THỜI KỲ HƯNG THỊNH (từ 1225 đến 1341)

CHIẾN THẮNG QUÂN MÔNG CỔ LẦN THỨ NHẤT (1257)

CHIẾN THẮNG QUÂN MÔNG CỔ LẦN THỨ HAI (1284-1285)

CHIẾN THẮNG QUÂN MÔNG CỔ LẦN THỨ BA (1287-1288)

SỰ BANG GIAO CỦA NHÀ TRẦN VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

Trần Cảnh lên ngôi lúc mới 8 tuổi, lấy hiệu là Trần Thái Tôn, phong cho Trần Thủ Độ làm Thái Sư, quyết định mọi việc trong nước. Việc đầu tiên của Trần Thủ Độ là t́m cách diệt họ Lư để tạo sự bền vững cho cơ nghiệp nhà Trần. Trong mục tiêu tận diệt nhà Lư, Trần Thủ Độ đă làm cho vua Lư Huệ Tôn phải thắt cổ tự tử chết và trong dịp làm lễ tế tổ tiên nhà Hậu Lư, Trần Thủ Độ sai người đào hầm và làm nhà lá ở trên. Các tôn thất nhà Hậu Lư vào tế lễ bị sụp cả xuống hầm. Trần Thủ Độ sai người đổ đất chôn sống tất cả. Muốn về sau không ai nhớ đến họ Lư nữa, Trần Thủ Độ lấy cớ tổ tiên nhà Trần tên Lư (Trần Lư) để bắt trong nước ai họ Lư đều phải đổi ra họ Nguyễn.

Cái khó khăn kế tiếp nhà Trần mà Trần Thủ Độ phải đối phó là việc tiễu trừ nội loạn : ở mạn Quốc Oai có người Mường nổi loạn, ở Hồng Châu có Đoàn Thượng chiếm giữ đất Đường Hào tự xưng làm vua, ở Bắc Giang có Nguyễn Nộn xưng vương tại làng Phù Đổng. Sau khi thu xếp xong việc cướp ngôi của nhà Hậu Lư, Trần Thủ Độ mới ra lệnh cử binh đi dẹp loạn. B́nh dẹp xong giặc Mường, Trần Thủ Độ ra lệnh tiến đánh Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn. Nhưng thế lực của 2 người này c̣n quá mạnh cho nên Trần Thủ Độ dùng mưu khôn khéo chia đất và phong vương cho họ để giảng ḥa. Sau một thời gian, Nguyễn Nộn đem quân đánh Đoàn Thượng chiếm đất Đường Hào, nhưng vài tháng sau Nguyễn Nộn bị mất và hàng ngũ quân lính cũng tan ră trước sự đánh dẹp của triều đ́nh. Từ đó, nhà Trần thống nhất giang sơn.

C̣n về việc nội trị, Trần Thủ Độ cho tổ chức lại triều chính, định cách thăn quan chức và đặt ra chức Ngự Sử để giám sát các cơ quan lại. Luật pháp được sửa đổi lại rất nghiêm minh v́ t́nh h́nh lúc bấy giờ chưa được thực sự yên ổn. Về thuế má th́ ấn định rất rơ ràng. Việc canh nông đdược khuyến khích mở mang hơn. Đặc biệt hơn cả là về việc binh bị đă chỉnh đốn toàn diện. Tấc cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Có thể nói trong lịch sử nước ta, thời nhà Trần quân lực có một tổ chứ chu đáo, hùng hậu và mạnh mẽ nhất và đă tạo những chiến thắng vẻ vang nhất đối với cuộc xâm lăng của Bắc Phương.

1/ Phương diện cai trị :

Đời nhà Trầén nước ta chia ra làm 12 lộ, mỗi lộ có quan An Phủ Sứ cai trị. Dưới chức vụ này có Đại Tư Xă, Tiểu Tư Xă, cai trị hai hoặc ba, bốn xă. Mỗi xă có một xă quan (tức là Chánh Giám Sứ). Mỗi lộ đều có quyền dân tịch để kiểm soát dân số trong lộ. Dân chúng trong nước được chia ra làm 3 hạng : hạng Tiểu Hoàng Nam (từ 18 tuổi đến 20T), hạng Đại Hoàng Nam (từ 20T đến 60T) và Lăo hạng (trên 60T). Lúc đầu chỉ có những người trong hoàng tộc mới được giữ các chức quan nhưng từ đời vua Anh Tôn, những người tài đức cũng được tuyển dụng vào giữ các chức vụ quan trọng này.

2/ Phương diện luật pháp :

Vua Trần Thái Tôn cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. H́nh phạt gồm 3 hạng : Tội Đồ (khắc chữ vào trán và bắt phạt cầy cấy công điền). Tội Lưu (bị đày đi ở chỗ nước độc) và Tội Chết. Riêng về tội trộm cắp có thể bị chặt tay, chặt chân hoặc đem cho voi dầy hoặc tuỳ quyền xử dụng của chủ nhân bị mất của.

3/ Phương diện kinh tế :

Về mặt nông nghiệp để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tôn sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách trông coi việc đ-e gọi là Hà Đê Sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều đ́nh c̣n ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng. Triều đ́nh cũng cho phép những Vương Hậu có quyền chiêu tập những người nghèo khó lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương.

Về mặt thuế má th́ có 2 loại thuế : Thuế Thân và Thuế Điền. Thuế Thân được đóng bằng tiền và ít nhiều tuỳ theo số ruộng có. Ai có dưới một mẫu ruộng th́ được miễn thuế. Thuế Điền th́ đóng bằng thóc. Ngoài ra c̣n có thuếu trầu cau, rau quả, tôm cá v.v? C̣n về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng, vàng bạc được đúc thành phân, lượng và có hiệu của nhà vua.

4/ Phương diện binh bị :

Binh bị đời nhà Trần được tổ chức rất chu đáo. Tất cả những người thuộc hạng Đại Hoàng Nam đều phải đi lính. Các Hoàng thân có quyền chiêu tập binh lính và giữ các chức vụ chỉ huy. Nhà vua c̣n cho mở Giảng Vơ Đường để luyện tập vơ nghệ. Binh sĩ được chia ra làm 3 nghành : Cấm Quân là lính túc vệ ở kinh đô, gồm những người dũng lược. Lộ Quân là lính đóng ở các lộ. Thuỷ Quân đóng giữ mặt biển. Thời b́nh trong nước có 10 vạn binh nhưng đến thời chiến số quân tăng lên 20 vạn. Quân luật rất nghiêm : ai đào ngũ phải bị chặt ngón chân, nếu tái phạm th́ bị voi dầy. Đặc biệt là các tướng sĩ thương yêu nhau như người anh em trong một nhà.

5/ Phương diện văn học :

Đời nhà Trần, văn học rất được mở mang. Nho học rất được toàn thịnh.

a/ Việc thi cử : Trước kia dưới triều Hậu Lư, có mở những khoa thi Tam Trường để lấy Cử Nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đ́nh cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa có mở định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái Tôn cho mở khoa thi Thái Học Sinh để lấy Tiến Sĩ theo định kỳ cứ 7 năm th́ có một kỳ thi. Năm 1247, nhà vua lại cho đặt ra kháo thi Tam Khôi để lấy Trạng Nguyên, Bảng nhăn và Thám Hoa. Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu Bảng Nhăn.

b/ Việc mở trường : Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời Hậu Lư, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng.

c/ Những văn tài nổi tiếng : Đời nhà Trần đă đào tạo được khá nhiều văn tài nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt Sử Kư và đây là bộ sử đầu tiên của nước ta. Mạc Đĩng Chi nổi tiếng là một ông Trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đă làm cho vua quan nhà Nguyên bên Tầu phải kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền treo gương thanh khiết cương trực. Các vua Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn, Anh Tôn, Minh Tôn đều là những người giỏi văn chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị như Hịch Tướng Sĩ.

d/ Văn Nôm : Nguyễn Thuyên tức Hàn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luậy thơ Nôm. Và v́ thế đă có nhiều học giả, văn nhân đă theo gương của Hàn Thuyên mà làm những bài thơ Nôm rất giá trị.

6/ Phương diện tôn giáo : Về Phật Giáo, vào đầu đời nhà Trần th́ Phật giáo c̣n thịnh. Các nhà vua đều sùng đạo cho xây chùa, đức chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. Vua Nhân Tôn c̣n sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm h́nh thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi. C̣n về Lăo giáo th́ cũng được nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những kháo thi Tam Giáo như đời Hậu Lư.

Các Cuộc Chiến Tranh Với Quân Mông Cổ Của Nhà Trần :

1/ Chiến Thắng Quân Mông Cổ Lần Thứ Nhất :

Đời nhà Trần ở nước ta th́ lúc bấy giờ nhà Tống bên tầu đă bị một danh tướng của Mông Cổ tên là Hốt tất Liệ đem quân sang đánh chiếm và lập nên nhà Nguyên. Quân Mộng Cổ rất hung hăn, có tài vừa đánh giặc vừa cỡi ngực, phi ngựa rất nhan và bắn tên rất giỏi.

Sau khi chiếm được nhà Tống quân Mông Cổ xua quân sang đánh nước ta.

Năm 1257, tướng nhà Nguyên là Ngột Lương Hợp Thai đem quân đi đánh nước Đại Việt (địa phận tỉnh vân Nam, Trung Hoa bay giờ). Sau khi chiếm xong nước này, th́ sai sứ sang nước ta bảo vua Trần Thái Tôn về thần phục Nguyên triều. Vua Trần Thái Tôn không chịu và c̣n ra lệnh bắt giam sứ giả nhà Nguyên. Biết rằng thế nào nhà Nguyên cũng sẽ sang đánh nước ta, Thái Tôn cử trần Quốc Tuấn làm Tiết Chế chuẩn bị bộ binh lẫn thủy binh để chống giữ biên thuỳ.

Đúng như dự đoán, Ngột Lương Hợp Thai từ Vân nam đem đại quân theo đường sông Thao ồ ạt t́ến quân đánh thẳng về Thăng Long. Trần Quốc Tuấn v́ quân ít không chống nổi phải lui quân về Sơn Tây và xin viện binh. Vua Trần Thái Tôn phải ngự giá thân chinh nhưng cũng không ngăn cản nổi sức tiến của quân Mông Cổ, đành phải bỏ thành lui về đóng đô ở Thiên Mạc (địa phận t́ỉnh Hưng Yên bây giờ). Quân Mông Cổ tiến vào chiếm lấy Thăng Long, thấy sứ giả của họ bị giam và bị chết, Ngột Lương Hợp Thai tức giận ra lệnh cho đốt kinh thành và tàn sát tất cả nhân dân.

Thấy t́nh thế nguy ngập, vua Trần Thái Tôn ngự thuyền đến hỏi ư kiến của Thái Sư Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ dơng dạc tâu rằng : « Đầu thần chưa rơi xin Bệ Hạ đừng lo » . Thái Tôn vững ḷng và quyết tâm chiến đấu. Một thời gian sau đó, quân Mông Cổ không quen thủy thổ nên bị bệnh và chết rất nhiều. Cùng lúc Thái Tôn cho tiến quân đánh Đồng Bộ Đầu, quân Mông Cổ thua bỏ chạy về vùng Qui Ḥa và lại bị thổ dân ở đây đánh cho một trận tơi bời, nên phải hối hả rút quân về Vân Nam. Nhà Trần đă chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất.

2/ Chiến Thắng Quân Mông Cổ Lần Thứ Hai

Khi Trần Nhân Tôn lên ngôi vua, nhà Nguyên sai sứ đ̣i sang chầu. Vua Nhân Tôn cử người chú là Trần Duy Aùi sang chầu thay. Vua nhà Nguyên đ̣i đưa người sang giám trị nước ta, vua Nhân Tôn ra lệnh bắt và đuổi về. Nhà Nguyên tức giận, khuyến dụ Trần Duy Aùi làm An Nam Quốc Vương rồi lấy cớ đưa Duy Aùi về nước để đem quân sang đánh nước ta. V́ tham quyền Trần Duy Aùi thuận lời và cùng quan tướng nhà Nguyên dưới sự chỉ huy của Sài Thung và 1 000 quân hộ tống trở về nước ta. Vua Nhân Tôn sai quân đón đánh ở biên thuỳ. Sài Thung bị bắn mù một mắt, trốn chạy về tầu, c̣n Duy Aùi th́ bị bắt đưa về kinh trị tội. Tức giận nhà Nguyên sai binh tướng sang đánh nước ta lần thứ hai.

Thái Tử Thoát Hoan của nhà Nguyên cùng 2 danh tướng Toa Đô và ô mă Nhi đem 50 vạn binh giả tiếng mượn đường sang đánh Chiêm Thành xuyên qua nước ta. Quân Nguyên chia làm 2 cánh : Thoát Hoan đi đường bộ qua ngă Lạng Sơn. Toa Đô đi đường biển qua lối Chiêm Thành. Vua Trần Nhân Tôn họp các vương hầu ở B́nh Than phong cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Tiết Chế thống lănh 2 vạn binh. Hưng Đạo Vương sai Trần B́nh trọng đóng đồn ở B́nh Than và Trần Khánh Giư giữ mặt Vân Đồn, c̣n tự ḿnh đóng binh ở Vạn Kiếp để tiếp ứng cho các nơi. Vua Trần Nhân Tôn c̣n triệu tập các bô lăo ở điện Diên Hồng để hỏi ư kiến là nên ḥa hay nên chiến. Các bô lăo đều đồng thanh quyết đánh. Do đó, các tướng sĩ đều một ḷng quyết chiến đấu.

Quân Nguyên ồ ạt tiến sang. Hưng Đạo Vương đem quân cản đường Thoát Hoan, Hưng Đạo Vương thua trận phải rút về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tôn nghe tin này bèn đến gặp Hưng Đạo Vương và ngỏ ư muốn hàng. Hưng Đạo Vương dơng dạc tâu : « Nếu Bệ hạ muốn hàng xin hăy chém đầu thần trước đă. » Hưng Đạo Vương chiêu tập thêm binh sĩ và truyền hịch khuyên răn động viên tinh thần tướng sĩ. Nhiều quân sĩ quá hăng say, thích vào cánh tay hai chữ « sát Thát » nghĩa là giết quân Mông Cổ. Thế tiến quân của Mông Cổ quá mạnh, Vạn Kiếp bị chiếm rồi Thăng Long thành thất thủ. Cùng lúc Toa Đô của Mông Cổ đến Chiêm Thành rồi kéo quân ra bằng đường bộ với Ô mă Nhi tiếp ứng. Trần Quang Khải chận đánh ở Nghệ An nhưng không cản nổi, phải lui về giữ những nơi hiểm yếu.

Trần B́nh Trọng trấn giữ Thiên Trường bị giặc vây và bị bắt. Trần B́nh Trọng không hàng giặc và cam chịu chết. Thế giặc quá mạnh Hưng Đạo Vương phải rước Hoàng Thượng và Nhân Tôn vào đất Thanh Hoá lánh nạn. Sau đó, Toa Đô và Ô Mă Nhi dùng đường biển kéo ra Bắc để hợp binh với Thoát Hoan, nhưng bị Trần Nhật Duật và Trần Quốc Tuấn đón đánh ở bến Hàm Tử, làm cho quân Nguyên thua to, phải rút về trấn giữ Thiên Trường. Cùng lúc, Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lăo từ Thanh Hóa kéo ra bến Chương Dương phá tan thủy quân của giặc Nguyên rồi tiến quân vào Thăng Long. Thoát Hoan bỏ thành chạy về giữ mặt Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hưng Đạo Vương sai quân chận đường không cho Thoát Hoan và Toa Đô liên lạc với nhau rồi dẫn quân đến đánh Toa Đô ở Tây Kết. Toa Đô bị phục binh bắn chết. Ô Mă Nhi lẻn trốn lên một chiếc thuyền con chạy ra biển trốn về Tầu.

Biết trước thế nào Thoát Hoan cũng sẽ bỏ chạy, Hưng Đạo Vương sai quân tướng chận đứng các lối hiểm ở vùng Vạn Kiếp rồi tự dẫn quân đi đánh Thoát Hoan. Thoát Hoan bị thua chạy đến vạn Kiếp th́ bị phục binh, vội vă chui vào ống đồng bỏ lên xe bắt quân lính kéo chạy về nước. Nhờ sự đoàn kết của toàn dân và nhờ tài dùng binh của Hưng Đạo Vương mà chỉ trong ṿng 6 tháng quân dân ta đă đánh tan 50 vạn binh của Mông Cổ.

Sự Ngoại Giao Với Các Nước Lân Bang Của Nhà Trần

Trong triều đại nhà Ttrần, ngoài những cuộc chiến tranh với quân Mông Cổ ở phía Bắc th́ nước ta cũng có những sự liên hệ với các nước láng giềng. Dó là Ai Lao và Chiêm Thành.

1/ Sự Giao Thiệp Với Ai Lao.

Vào đời nhà Trần quân của Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc nước ta ở vùng Nghệ An và Thanh Hóa. V́ thế triều đ́nh đă phải sai quân lính đi đánh dẹp măi và chính các vị vua phải thân chinh đi dẹp gặc, trong đó nhiều nhất phải kể đến vua Trần Nhân Tôn. Mỗi lần bị thua th́ quân Ai lao rút về nhưng sau đó th́ lại sang quấy phá. Trong đời vua Trần Anh Tôn, ông cũng nhiều lần thân chinh đi dẹp giặc nhưng ông cũng đă ra lệnh cho Phạm Ngũ lăo hơn ba, bốn phen đi dẹp giặc. Vua Trần Minh Tôn cũng nhiều phen thân chinh đi dẹp giặc. Trong triều đại nhà Trần, mục đích của nước ta là dẹp các cuộc đánh phá và quấy nhiễu của quân Ai lao chứ không có mục đích đánh chiếm lấy đất nước này.

2/ Sự Giao Thiệp Với Chiêm Thành.

Có thể nói trong các triều đại nước ta, Chiêm Thành không lúc nào không quấy phá chúng ta và cuộc chiến tranh giữa 2 ngước đă thường xuyên xảy ra. Lúc nhà Trần lên ngôi, nước Chiêm Thành vẫn giữ lệ triều cống và giao ḥa. Trong đời vua Trần Nhân Tôn, sau khi chinh phạt Chiêm Thành, th́ giữa nước ta và nước Chiêm Thành có sự giao hảo tốt đẹp. Đến đời vua Trần Anh Tôn, lúc bấy giờ Trần Nhân tôn đă lên làm Thái Thượng Hoanég và trong lúc sang thăm văn cảnh nước Chiêm và để cho t́nh giao hảo của 2 nước trở nên bền vững hơn, nnà Trần đă gả Công Chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm là Chế Mân (1306). Chế Mân dâng châu Ô và châu Rí cho nước ta. Vua Trần Anh Tôn đổi tên là Thuận Châu và Hoá Châu rồi đặt qaun cai trị cũng như cho di dân sang ở. Một năm sau, Chế Mân chết. Theo tục lệ Chiêm Thành th́ Hoàng hậu phải bị hỏa thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tôn sai tướng trần Khắc Chung gia « tiếng vào thăm rồi t́m kế rước về.

Chế Mân chết th́ Chế Chỉ lên thay và đ̣i lại 2 châu mà Chế mân đă dâng cho nước ta. Vua Trần Anh Tôn sai quân sang bắt Chế Chỉ đem về trị tội và phong cho em của Chế Chỉ là Chế Đà A Bà lên thay làm vua nước Chiêm Thành. Đến đời vua trần Dụ Tôn, con và rể của vua Chiêm Thành tranh giành nhau ngôi vua, quân nhà Trần sang can thiệp nhưng bị nước Chuêm đánh bại cả 2 lần. Lúc bấy giờ thấy thế lực nhà Trần suy yếu, nước Chiêm có ư khởi binh đánh đ̣i lại 2 châu đă mất. Đến đời vua Trần Duệ Tôn, nhà vua và tướng nhà Trần là Lê Quư Ly Cử binh sang đánh Chiêm Tằnh. Chiếm xong cửa Thị nại (Quy Nhơn) rồi tiến đánh kinh thành là Đồ bàn (1377). Lúc bấy giờ vủa của Chiêm Thành là Chế Bồng Nga, là một ông vua có tài thao lược nên đă đánh tan được quân của nhà Trần. Vua Trần Duệ Tôn bị tử trận và Lê Quư Ly rút quân bỏ chạy về nước. Thừa thắng xông lên, Chế Bồng Nga sai quân sang đánh phá nước ta và đă 3 lần tiến đánh đến Thăng Long Thành. Năm1390, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh. Trần Khắc Chân đă đem binh dàn trận ở sông hải Triều (sông Luộc ở vùng Hưng Yên ngày nay). Chế Bồng Nga bị trúng tên tử trận (v́ có người Chiêm quốc hàng phục nước ta làm nội tuyến chỉ điểm cho quân nhà Trần phục binh đánh). Chế Bồng Nga chết, quân Chiêm bỏ chạy và sau đó con của Chế Bồng Nga hàng phục nước ta.

Thời Kỳ Suy Vong Của Nhà Trần

Nhà Trần đă có một thời đại thật hưng thịnh, đă từng phá quân Nguyên cũng như b́nh phục được ChiêmThành, nhưng kể từ khi Thái Thượng Hoàng Trần Minh Tôn qua đời, vua Trần Dụ Tôn ham mê tửu sắc, phó mặc mọi việc triều chính để cho nhà Trần bước vào giai đoạn suy vi và sau cùng bị mất ngôi.

Vua Trần Dụ Tôn chẳng những phế bỏ triều chính mà c̣n ra lệnh cho xây cung điện, tạo sư cao thuế nặng làm cho nhân dân vô cùng khổ sở và ta thán. Trong nước giặc giă nổi lên khắp nơi. Trong khi đó tại triều đ́nh, các bọn gian thần kéo bè kết đảng và trở nên lộng hành vô cùng.

Lúc bấy giờ, có Chu Văn An, một vị quan thanh liêm, trung thần tại triều đ́nh, đă dâng sớ đề nghị trị tội những tên tham quan ô lại. Vua Trần Dụ Tôn đă không chịu nghe nên ông Chu Văn An đă từ quan về nhà dậy học. Khi vua Trần Dụ Tôn mất th́ Trần Nghệ Tôn lên thay. Nghệ Tôn làm vua được 2 năm, th́ lên làm Thái Thượng Hoàng cho các triều đại Duệ Tôn, Đế Hiến và Thuận Tôn. Thái Thượng Hoanøg Nghệ Tôn nắm cả quyền binh trong tay nhưng lại quá tin dùng một gian thần, đó là Lê Quư Ly. Do đó, Qúy Ly đă chuyên quyền xúi giục Nghệ Tôn giết hại các trung thần, các hoanég tử, các thân vương và ngay cả vua Hiến Đế cũng bị sự gièm pha của Quư Ly mà bị Nghệ Tôn phế bỏ.

V́ có mưu đồ soán đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tôn cho nên Lê Quư Ly đă tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đ́nh và khắp mọi nơi. Rồi từ đó Quư Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra ǵ. Năm 1394, Nghệ Tôn mất, Lê Quư Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công việc xong xuôi, Lê Quư Ly bắt Trần Thuận Tôn dời kinh về Tây Đô rồi lập mưu xúi giục Thuận Tôn nhường ngôi cho Thiếu Đế (3 tuổi) lên ngôi. Lê Quư Ly lên làm Phụ Chính sai người giết Thuận Tôn và chuẩn bị cướp ngôi.

Nh́n thấy gian mưu của Lê Quư Ly, nhiều người lầp hội với cơ mưu tiễu trừ lê Quư Ly như Trần Khắc Chân?nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Lê Quư Ly truất phế Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua chiếm lấy ngôi nhà Trần.

Nhà Trần trị v́ được 175 năm và truyền ngôi được 12 đời
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.