Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Cao Bá Quát
Topic Started: Jul 28 2006, 08:58 AM (1,208 Views)
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đ́nh thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được ḷng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, ḷng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông c̣n được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp t́m gươm báu)

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)

Đôi câu đối ấy đă thâu tóm khá đầy đủ hoài băo và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm ngh́n sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rơ cái hăng hái thường t́nh ấy Trên đường công danh đă mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông:

Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô

Gió giận dữ đánh ch́m cả những chiếc thuyền to

Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,

Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ

Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự b́nh thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa băo: Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba ṿng xích sắt bước th́ vương.

Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm ḷng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời:

Băi cát dài, băi cát dài!

Bước một bước lại như lùi một bước.

Trong t́nh cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ v́ tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ư phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc ḿnh làm là việc thiện, mà việc thiện th́ ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lư thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nh́n thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người ḿnh, ông tả nó và tả chính tâm trạng ḿnh, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai:

Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp.

Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở

Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (...)

Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng v́ ta mà bay lên

Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa

Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.

Ông nh́n sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết t́nh cảm, đặc biệt t́nh cảm gia đ́nh. Ông có những câu thơ thương vợ thương con t́nh cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, h́nh như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đă mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ t́nh cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hăy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than ôi hăy ngừng lệ/ Một bữa ta tạm mời/ Đời người như quán trọ/ Ung dung nào mấy ai/ Thong thả đừng nuốt vội/ No ứ dễ hại người. Cao Bá Quát đă thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đă t́m cách nói:

Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới

Cung vua sẵn đó lại cung vua

Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đă rối bời th́ cùng rối bời như nhau. Rối bời v́ ái quốc th́ không thể trung quân.

Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ v́ thân danh ḿnh lận đận. Hoài băo của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm ḷng đắng ngắt chỉ ḿnh ḿnh biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có v́ sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ư chí hành động của Cao Bá Quát đă rơ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trăi, ông viết:

Khách nam nhi chẳng v́ thế thái

Đem thân ra đỡ lấy cương thường

Năm 1853 Cao Bá Quát đă trở thành một trong những người lănh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đă trở thành h́nh tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính ḿnh.
.

Đến Làng Đông Du, Đêm Ngủ Dỗ

Đầu sông đứng ngóng quê hương
Quê hương đâu phải dặm trường xa xôi,
Cớ sao măi chẳng tới nơi,
Vừa đi vừa đứng bồi hồi làm sao?
Thiếu người cáng vơng, phải đâu
Cũng không chờ đợi bạn bầu những ai.
Từ khi vướng lấy lụy đời
Nửa bầu máu nóng nhường vơi vơi dần.

Đường đời biển ảo phong vân
Việc đời ấm lạnh bao giờ đổi thay
Mũ treo c̣n chửa hẹn ngày,
Cỗng sài nào biết sau này nơi nao!

Nghiệp xưa vườn ruộng dăm sào
Rêu hoang cỏ dại ai nào ngó coi!
Họ hàng người cũng thưa rồi
Bữa cơm dưa muối thết mời vẫn chưa.

Biệt ly biết đến bao giờ!
Thà im im bắt, nói ra ngại lời
Trời tây bóng đă xế rồi
Vẫn c̣n nấn ná quê người một thân.

Đời người thấm thoát

Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ (1)
Có bao lăm ba vạn sáu ngh́n ngày
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay
Sực nhớ chữ ''Cổ nhân bỉnh chúc'' (2)
Cao sơn, lưu thủy, thi thiên trục (3)
Minh nguyệt, thanh phong tửu nhất thuyền (4)
Dang tay người tài tử khách thuyền quyên
Chén rượu thánh, câu thơ tiên thích chí
Thành thị ấy, mà giang sơn ấy
Đâu chẳng là tuyết, nguyệt, phong, hoa
Bốn mùa xuân lại, thu qua

(1) Người sinh trong đất trời như đến nhà trọ (ngắn ngủi)
(2) Người xưa cầm đuốc đi chơi đêm ... thơ Lư Bạch
(3) Có núi cao, nước chảy nên thơ ra ngàn bài
(4) Nhờ trăng thanh, gió mát mà uống một thuyền đầy

Hoài Cảm

T́nh khách bâng khuâng mấy dậm đường
Mai tàn, sen đă ngát mùi hương
Màu thu vườn cũ nay sao nhỉ
Hoa lạnh nơi này đă cợt sương.

Mộng vong nữ (Bản diễn Nôm)

Thân viễn ngô đương bệnh
Tư nhi mỗi tiết ai
Hốt nhiên trung dạ mộng
Sậu kiến lệ như thôi.
Y phục hàn nhưng phá
Dung nhan thảm bất khai
Thái diêm bần vị khuyết
Tân khổ nhữ quy lai

Chiêm bao thấy con gái đă mất

Nhà xa bệnh lại dày ṿ
Nhớ con hằng nén xót chua nghẹn ngào
Đêm qua bỗng thấy chiêm bao
Gặp con, giọt lệ tuôn dào như mưa.
Áo đơn lạnh lẽo xác xơ
Ủ ê nét mặt, bơ phờ h́nh dung!
Tuy nghèo dưa muối đủ dùng,
Đắng cay con hăy về cùng với cha!

Nhớ người

Giai nhân nan tái đắc (1)
Trót yêu hoa nên dan díu với t́nh
Mái Tây hiên (2) nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ bấy xuân về, oanh nhớ

Phong lưu tài tử đa xuân tứ
Trường đoạn tiêu tương nhất chỉ thư (3)

Nước sông Tương (4) một dải nông sờ
Cho kẻ đấy, người đây mong mỏi !
Bứt rứt nhẽ trăm đường ngh́n nỗi !
Chữ chung t́nh biết nói cùng ai ?
Trót v́ gắn bó một hai ....!

Sắp Đến Quê Nhà

Cao cao cây gạo đó
Gốc cỗi ngọn thanh thanh.
Xa xa trông nẻo ấy
Nhà ở bậc cao minh
Trúc dầy che lối hẻm
Cỏ mượt bọc thềm quanh
Ao trong, cá vùng vẫy
Lúa tốt, đồng mông mênh.

Đây xưa nơi dạy học
Đứng ngồi thừa rung rinh.
Thanh nhàn, cam vụng dại
Hư không, ấy chí ḿnh.

Từ đèo ḅng danh lợi
Nên xa cách non xanh
Lâu lắm chưa về được
V́ sợ lệnh triều đ́nh.

Bơ phờ nay trở lại
Ấm ức nghĩ sao đành
Sẵn ḷng mong hẳn được
Tương lai nào ai tranh?

Tài Tử;... Giai Nhân

Tài tử với giai nhân sẵn nợ,
Giải cấu nan là chữ làm sao.
Trải xưa nay chừng đă biết bao,
Kia tan hợp, nọ khửu lưu, đâu dám chắc.
Giai nhân khứ khứ hành hành sắc,
Tài tử triêu triêu mộ mộ t́nh (1)
Uẩy kia ai, như mây tuôn như nước chảy,
như gió mát như trăng thanh.
Lơ lửng khéo trêu người chi măi măi.
Trời đất có san đi mà sẻ lại,
Hội tương phùng c̣n lắm lúc về sau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau.
Thường những kẻ giai nhân tài tử,
Chót đa mang v́ một chữ t́nh.
Nghĩ nguồn cơn thẹn với trời xanh,
Tưởng nông nổi giận cùng trăng bạc.
Tương tiếu nhất thanh song lệ lạc,
Khả liên bán điềm thấp châu huyển (2)
Trách v́ phận, giận v́ duyên
Duyện phận những v́ t́nh nên nông nổi.
Dẫu dạ sắt gan vàng cũng rối,
vẫn ruột tằm lắm mỗi càng đau.
Tương tư ai để cho nhau

Thú nhàn

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (1)
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu (2)
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu
Đem mộng sự đọ với chân thân th́ cũng hệt
Duy giang thượng chi thanh phong,
dữ sơn gian chi minh nguyệt (3)
Kho trời chung, mà vô tận của ḿnh riêng
Cuộc vuông tṛn phó mặc khuôn thiêng
Kẻ thành thị kẻ vui miền lâm tẩu
Gơ nhịp lấy, đọc câu ''Tương Tiến Tửú (4)
"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi" (5)
Làm chi cho mệt một đời

(1) Cuộc đời lên xuống, bạn đừng hỏi
(2) Chốn sâu khói sóng, buông thuyền câu
(3) Chỉ ở trên sông có gió mát, chỉ trong khoảng núi có trăng sáng, Trích trong bài tiền Xích Bích của Tô Đông Pha một danh sỹ đời Tống
(4) Đầu đề của một bài ca của Lư Bạch
(5) Bạn chưa thấy nước sông Hoàng Hà, từ trời xuống chảy tuôn xuống biển không hề quay luị Ư nói đời sống, thời gian một đi không trở lại

Trăng mười bảy
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trời cao sao lác đác
Trăng sáng trong như nước
Sâu mùa kêu tỉ tê
Gió thu thổi hiu hắt
Có người đẹp trên lầu
Tựa hiên buồn, nín bặt
Dậy xem, canh mấy rồi
Dạo quanh, lại dừng bước
Chẳng lo đêm lạnh dài
Chỉ tiếc trăng hầu khuất
Thiếp thưở đôi tám xưa
Vẻ so trăng chẳng khác
Lớn lên tưởng vẫn c̣n
Sắc đắm người như trước
Túm áo bọc ánh trăng
Chẳng nở hoài bỏ vứt
Xén làm bức thư t́nh
Gửi bạn lời tâm phúc

Trăng sông Trà (Trà Giang Nguyệt)

Trà Giang Nguyệt kim dạ vị thùy thanh ?
Quan san vạn lư hạo nhất sắc
Hà xứ bất hệ ly nhân t́nh ?
Cử bôi thí yêu nguyệt
Nguyệt nhập bôi trung hành
Hàm bôi dục yết cánh phi khứ
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành
Đ́nh bôi thả phục trí
Hựu kiến cô quang sinh
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn sa
Ngă thị Trúc Lâm (1) cùng độ chi bộ binh
Giang đầu thử tịch phùng thu tiết
Tửu măn tu khuynh vị quân thuyết
Đà môn cựu lữ Tồn Chân ông
Cần hải minh tiên hiểu tương biệt
Tạc dạ kim phong (2) há kim khuyết (3)
Bạch lộ (4) thanh sương (5) sảo xâm cốt
Nhân sinh hội ngộ an khả thường
Hữu tửu thủ ẩm Trà giang nguyệt
Trà giang nguyệt, như kính hạ ngân lưu
Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ
Kỳ lộ vô vi nhi nữ t́nh (6).

Bản dịch của Hữu Vinh

Đêm sông Trà trăng sáng bởi v́ ai
Muôn dặm sơn khê xanh trong vắt
Khắp nơi nơi vương vấn mối t́nh hoài
Nâng ly ta mời trăng tỏ
Ly lóng lánh trăng trôi
Tan biến mất khi đôi môi muốn nhắp
Rồi chỉ c̣n sóng sánh bóng h́nh người
Ngưng ly rồi đặt xuống
Trăng lại về đơn côi
Hởi cớ v́ đâu mà măi hoài lưu luyến
Trúc Lâm mặc khách ta là kẻ lạc loài
Bến đầu sông hôm nay mùa thu tới
Rượu nốc rồi v́ anh ta kể lể
Xứ Đà Môn Tồn lăo bạn thân ta
Sớm ngày mai bước lên đường ly biệt
Trong nhà gió thu về lồng lồng tối hôm qua
Lạnh lẽo sương sa trời sang buốt rét
Cuộc nhân sinh hội ngộ được bao là
Này trăng nhé sẵn rượu đây ta nốc hết
Trăng sông Trà bàng bạc bóng gương nga
Kẻ làm trai đi th́ đi như đă quyết
Bước đi phứt không vương luỵ mối t́nh nhà
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

II.MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC TRONG THƠ CAO BA QUÁT.

1.Thơ ông chứa đựng một nội dung hiện thực phong phú.

-Thơ văn Cao Bá Quát thuộc khuynh hướng phê phán hiện thực, bộ mặt của xă hội đương thời được phản ánh khá rộng răi, đa dạng và phong phú trong tác phẩm của ông. Chẳng hạn qua thơ văn của ông người ta có thể thấy cuộc sống thiếu thốn, vất vả của một nhà nho nghèo có hoài băo, tâm huyết đến cuộc sống của một kẻ bị tù tội oan uổng; những sức ép tàn bạo bằng ngục tù, roi đ̣n của nhà Nguyễn đối với những con người có tài năng, có tư tưởng tiến bộ rồi cuộc đời cùng quẫn của nhân dân lao động trong xă hội đương thời. Cũng như bao nhà thơ tiến bộ khác, Cao Bá Quát cũng bắt đầu từ những vấn đề của cá nhân để đi đến những vấn đề có tính xă hội và càng về sau thơ văn ông càng giàu tính hiện thực. Từ những chi tiết mang tính hiện thực ấy ta thấy hiện lên bộ mặt của một chế độ đă già cỗi, tàn bạo, bất nhân đáng nguyền rủa và đáng bị tiêu diệt.

2. Thơ Cao Bá Quát chứa đựng nhiều t́nh cảm tốt đẹp, nhiều tư tưởng tiến bộ. TOP


Thơ văn Cao Bá Quát là sản phẩm tinh thần của một con người có nhân cách cứng cỏi, trí tuệ sáng suốt; một tâm hồn lộng gió thời đại, một trái tim nhạy bén giàu cảm xúc. V́ vậy thơ văn ông chứa đựng nhiều t́nh cảm tốt đẹp, nhiều tư tưởng tiến bộ.

2.2.1.Ḷng yêu nước và tự hào dân tộc.

-Khâm phục và ngưỡng mộ những người anh hùng cứu nước, ông viết các bài thơ Vịnh Phù Đổng Thiên Vương, Vịnh Trần Hưng Đạo...Qua việc ca ngợi những người anh hùng đó Cao Bá Quát bộc lộ ước muốn cứu dân, cứu nước của ḿnh. Ông như t́m thấy sự tiếp sức từ trong lịch sử của dân tộc. Đây là điểm khác biệt giữa thơ vịnh lịch sử của ông và các nhà thơ khác (họ vịnh lịch sử để quay lưng với hiện thực cuộc sống).

-Cao Bá Quát c̣n là con người say mê với những cảnh đẹp của non sông đất nước, ông ca ngợi những cảch đẹp ấy. Hầu hết các danh lam thắng cảnh của miền Bắc, ông đều có đến thăm và đề thơ ngâm vịnh như: núi Ba V́, hồ Tây, núi Thúy Dục, sông Hương. Nét đặc sắc của nhà thơ khi miêu tả các cảnh này là ở chỗ ông không miêu tả nó theo lối của những ẩn sĩ đi du ngoạn để chữa bệnh tinh thần mà lại kèm theo hào khí dân tộc. Dải sông Hương mềm mại đến thế mà khi hiện lên trong thơ ông vẫn mang một hào khí hùng tráng:

Trường giang như kiếm lập thanh thiên

(Con sông dài như thanh kiếm dựng giữa trời xanh)

(Buổi sáng qua sông Hương).

Núi Dục Thúy, núi Tản Viên, hồ Tây từ lâu đă trở thành niềm tự hào của đất nước và đặc biệt là là h́nh tượng núi Tản đă từng tượng trưng cho khí phách hào hùng của dân tộc ta. Và trong thơ Cao Bá Quát nét đặc sắc là câu tự vấn của tác giả: Non sông như thế, ḿnh th́ sao đây? khi đứng trước những thắng cảnh ấy. T́nh cảm của ông bao giờ cũng là t́nh cảm hai chiều: Yêu thương và trách nhiệm. Đây không phải là điều dễ t́m thấy ở các nhà thơ đương thời.

-Đặc biệt trong thời đại sống của ḿnh Cao Bá Quát đă ư thức, đă băn khoăn cho số mệnh của đất nước trước hiểm họa xâm lăng từ phương Tây.

2.2.2.Ḷng yêu thương con người nghèo khổ, bất hạnh.

Đây là nét đặc sắc nổi bật nhất, phân cách giữa Cao Bá Quát và các nhà thơ đương thời. Cao Bá Quát có một ư thức v́ dân thực sự, ông đă đứng về phía quần chúng lao động để thông cảm với những nỗi khổ đói cơm, rách áo của họ.

-Nhà thơ đă thực sự xúc động trước những t́nh cảnh đói cơm, rách áo của những người dân nghèo:

+Bài thơ Dọc đường gặp người đói giúp ta cảm nhận được một tấm ḷng yêu thương với t́nh cảm dạt dào.

+Bài Người tát nước trên đồng cao buổi sángtáïc giả miêu tả cảnh những người lao động đang tát nước trên đồng cao. Buổi sáng sương núi c̣n dày đặc, trời rét, bụng đói, môi run cầm cập mà cứ phải luôn tay kéo gàu.

+Bài Cô gái từ trên cầu trở về lúc buổi tối (Mộ kiều qui nữ) tả cảnh buổi chiều tối, trời rét, một cô gái phải đi bán áo để mua cám cho gia đ́nh, khi trở về qua cầu gió hun hút thổi mà cô gái vẫn thản nhiên bước đi bởi ḷng cô như ấm lên khi nghĩ tới người nhà đang tựa cửa chờ ḿnh.

-Cao Bá Quát cũng đă nh́n thấy được nguyên nhân của sự đói khổ của quần chúng lao động là do sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị. V́ thế nhà thơ đă hết sức căm giận và trực tiếp phê phán chính sách cai trị hà khắc của triều đ́nh nhà Nguyễn. Ḷng yêu thương quần chúng của Cao Bá Quát cũng đă biến thành trách nhiệm, đây cũng là nét đặc sắc của tác giả này. Ông băn khoăn, day dứt về trách nhiệm của ḿnh đối với dân. Có lúc ông tỏ ra bực tức v́ thấy ḿnh đă già, đă bất lực:

Ḷng thẹn với ḷng này hóa lăo

Cúi đầu lẳng lặng dựa bên tường

2.2.3.Thơ ông chứa đựng nhiều t́nh cảm đậm đà, chung thủy

trong quan hệ bè bạn, gia đ́nh, làng xóm.Thời kỳ bị giam, nhà thơ đă viết nhiều bài thơ thể hiện ḷng thương vợ, nhớ con, nhớ quê hương, bạn bè da diết.

-Ở bài thơ Tiếp thư của vợ gửi áo rét, bút và vài thứ nhà thơ đă viết những câu thơ thật xúc động:

Trước đèn thư mở lệ muôn hàng

Hồn gửi pḥng the luống vấn vương

-Bài Mộng vong nữ (Chiêm bao thấy con gái đă mất) là tiếng nói yêu thương, đau xót thể hiện một tâm hồn giàu chất nhân văn của nhà thơ. Tronh mơ ông thấy người con gái đă mất trở về với quần áo mong manh, rách nát, sắc diện thê thiết.

-Bài Trả lời người bạn hỏi thăm viết khi bị thải về nhà:

Chợt nghĩ tới ḿnh ruột gan như từng khúc
Nhớ bạn mỗi ngày tính đến trăm lần

2.2.4.Thơ ông c̣n chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ.

-Ông là người có thái độ đúng đắn trước sức mạnh vật chất của người phương Tây. Ông không tỏ ra khiếp sợ tuy có ngạc nhiên. Bài thơ Hồng mao hỏa thuyền ca ông miêu tả con tàu không buồm, không chèo, không người đẩy mà đi ngang, chạy ngược nhanh như ngựa phi. Khói phun ngùn ngụt, sóng tung tóe ầm ầm như sóng. Nhưng kết thúc bài thơ, ông kết luận đầy khí phách, cảnh cáo con tàu đừng chủ quan khi đến biển Đông. Bởi sóng nước ở đây không dễ dàng như bể Tây đâu.

-Ông có một thái độ đúng đắn và tiến bộ trước lối học từ chương khoa cử của nền giáo dục phong kiến từ ngàn đời nay. Cao Bá Quát là người đầu tiên dám phê phán và phủ định lối học đó, ông coi lối học từ chương là tṛ nhai văn nhá chữ, là lối học trẻ con, hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thực tế. Ông phê phán bằng lời và cả hành động của ḿnh. Việc ông chữa các bài phạm húy tựu trung cũng mang ư nghĩa phản kháng, phê phán, xuất phát từ chỗ ông không đồng ư với những phép tắc ngu xuẩn của trường thi thời bấy giờ.

-Ông quan tâm đến tác dụng của văn thơ và đề xuất một số quan niệm về văn thơ rất tiến bộ. Ông cho rằng thơ vừa phải có quy cách vừa phải có tính t́nh nhưng tính t́nh là cái quyết định.

3.Thơ Cao Bá Quát in đậm dấu ấn bản lĩnh và phong cách nhà thơ. TOP


Cao Bá Quát là một con người phóng túng, có nhân cách cứng cỏi, có tâm hồn, có trái tim giàu cảm xúc. Những điều đó đă in đậm vào sáng tác và trở thành phong cách riêng của nhà thơ, phong cách đó tạm quy vào mấy nét sau:

-Sáng tác của ông mang tính chất phóng túng: Tiêu biểu nhất là trong thơ chữ Hán, ông sử dụng nhiều h́nh tượng mới mẻ, có nhiều tứ thơ đột xuất. Nói tới hoa mai, các nhà thơ xưa thường ca ngợi sự trắng trong và tinh khiết của nó. Cao Bá Quát cũng ca ngợi cái tinh khiết, cái trắng trong đó của hoa mai nhưng thiết thực hơn ông muốn tự tay ḿnh gieo lên núi một rừng mai để rồi khi xuân đến mai sẽ xanh tươi điểm tô cho bầu trời, mai sẽ trở thành bức tranh tuyệt tác cho đời xem chung (Tài mai). Nói đến ḍng sông Hương của Huế, người ta thường nghĩ tới một ḍng sông hiền ḥa mềm mại, nhưng dưới con mắt của Cao Bá Quát th́ sông Hương lại giống như một thanh kiếm dựng đứng giữa trời xanh. Bài phú Tài tử đa cùng cũng là một hiện tượng đặc biệt. Do tính chất biền ngẫu của câu văn nên phú thường có cái g̣ bó của nó nhưng đọc bài phú của Cao Bá Quát ta thấy ng̣i bút của ông vẫn phóng túng hết mực. Ông vẫn diễn tả được một cách sôi nổi cái háo hức của tuổi trẻ. Trong bài phú ông dùng nhiều động từ diễn tả hành động mạnh bạo để thể hiện tư tưởng lành mạnh, tiến bộ của ḿnh.

-Thơ Cao Bá Quát kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và suy nghĩ, giữa t́nh cảm và lí trí. Lí trí làm cho t́nh cảm của nhà thơ trở nên sâu sắc hơn, đậm đà hơn ngược lại t́nh cảm làm cho suy nghĩ của nhà thơ trở nên đúng đắn hơn. Ông luôn băn khoăn về con đường đi của ḿnh, về trách nhiệm của một nhà nho đối với nhân dân.

-Hiện thực trong thơ ông nôm na mà bay bổng (chất thơ) để nói rơ sự việc Cao Bá Quát đă không ngại đi vào những chi tiết chân thực nhất của cuộc sống.

III.KẾT LUẬN

Cao Bá Quát là nhà thơ lớn nhất trong khuynh hướng phê phán hiện thực của văn học nửa đầu thế kỷ XIX. Đóng góp của thơ văn Cao Bá Quát trước hết là ở nội dung, cái hơn người của ông là nội dung tư tưởng, là ḷng dũng cảm, là sự sáng suốt cả về chính trị lẫn văn hóa. Cuộc đời của ông vẫn là một bài học quí, khi cần thiết ông biết ném cây bút để nắm lấy Long tuyền.
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

THỬ T̀M HIỂU THÊM VỀ CHUYẾN ĐI CÔNG VỤ Ở HẠ CHÂU CỦA

Vĩnh Sính

Trong nỗ lực t́m hiểu và so sánh về nhận thức ban đầu của giới sĩ phu Đông Á khi tiếp xúc với văn minh Tây phương vào khoảng giữa thế kỷ XIX, chúng tôi đă t́m đọc một số sứ tŕnh nhật kư cùng thơ văn mà các sứ thần Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam ghi lại trong những lần đi công cán sang các nước Tây phương. Trong chuyến công vụ ra nước ngoài vào năm 1844, mặc dầu Cao Bá Quát (CBQ) chỉ đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á, nhưng những bài thơ do ông sáng tác trong lần “ xuất dương hiệu lực ” này có thể xếp vào mảng tư liệu nói trên. Lư do là qua những bài thơ này, người đọc có thể thấy được những nét chấm phá nói lên cảm giác kinh ngạc của tác giả đối với nền văn minh cận đại của người Tây phương khi ông đi qua những thuộc địa hay tô giới của họ trong vùng Hạ Châu.

Trong bài này, dựa trên những tư liệu của Việt Nam và của nước ngoài, chúng tôi sẽ đưa ra một số nhận xét và thông tin nhằm thấy rơ hơn về mục đích phái bộ Việt Nam đi Hạ Châu lần này và ấn tượng về văn minh Tây phương của CBQ.

1) Mục đích của chuyến công du : Trước hết, chúng ta cần khẳng định vị trí của vùng Hạ Châu. Theo nghiên cứu của cố học giả Trần Kinh Hoà (Ch’en Ching-ho), địa danh Hạ Châu tuỳ theo thời điểm có thể dùng để chỉ những địa điểm khác nhau. Nói một cách cụ thể, địa danh Hạ Châu nguyên vào đầu thế kỷ XIX dùng để chỉ Penang và Malacca, nhưng sau khi Tân Gia Ba trở thành nhượng địa của Anh và cảng này được khai trương vào năm 1819, cả hai danh xưng Hạ Châu và Tân Gia Ba đều được sử dụng nhằm chỉ tân cảng Singapore. Tuy nhiên, vào thời điểm 1844 khi CBQ được phái đi công vụ, danh xưng Hạ Châu trên nguyên tắc được dùng không những để chỉ Singapore mà c̣n để gọi cả Penang và Malacca -- tức là các thuộc địa trên eo biển Malacca mà tiếng Anh gọi chung là Straits Settlements.

Nhằm hiểu rơ mục đích của phái bộ cùng phản ứng của CBQ khi mục kích những biểu tượng của nền văn minh hiện đại Tây phương, chúng ta cần để ư đến thời điểm phái bộ được gửi đi Hạ Châu lần này : Đây là một trong các phái bộ đầu tiên do triều đ́nh nhà Nguyễn gửi sang Hạ Châu ngay sau khi Thanh triều v́ bị thất trận nặng nề trong chiến tranh Nha phiến (1839-1842) nên phải nuốt nhục kư kết điều ước Nam Kinh (1842) với nước Anh. Điều ước này mở đầu cho một loạt điều ước bất b́nh đẳng Trung Quốc phải kư kết với các liệt cường khác.

Trên thực tế, theo điều ước Nam Kinh, Trung Quốc phải cắt nhường Hương Cảng cho Anh trong 150 năm, mở 5 cảng Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải cho người Anh đến buôn bán và cư trú, đồng thời phải bồi thường cho nước Anh 21 triệu đồng bạc Mễ Tây Cơ. Đối với các nước có quan hệ triều cống với Trung Quốc như Việt Nam hay Triều Tiên, điều ước này c̣n mang một ư nghĩa quan trọng khác : vị trí “ Thiên triều ” của Trung Quốc ở Đông Á không c̣n như trước. Theo chứng từ của một người Anh đến Việt Nam vài năm sau đó, “ từ khi chiến tranh Nha phiến bùng nổ, Trung Quốc đă có thái độ mềm mỏng và hoà hoăn (reconciliatory) đối với Việt Nam và thậm chí đă miễn việc triều cống,... điều ước Nam Kinh đă mang lại lợi ích cho vua nước An Nam, v́ sau đó mậu dịch không c̣n giới hạn ở Quảng Đông và Hạ Môn như trước, mà có thể khuếch đại sang 3 cảng mới được mở thêm do điều ước Nam Kinh ”.

Phái bộ đi Hạ Châu năm 1844 có mục đích ǵ ? Nhằm trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần thu thập một số thông tin cơ bản. Người dẫn đầu phái bộ (chánh biện) là Đào Trí Phú (nguyên Tả tham tri bộ Hộ) ; phó biện là Trần Tú Dĩnh (Viên ngoại lang Nội bộ phủ), quan viên tháp tùng c̣n có thừa biện Lê Bá Đĩnh, tư vụ Nguyễn Văn Bàn và Nguyễn Công Dao, thị vệ Trần Văn Quư, cùng hai người đi “ hiệu lực ” là CBQ và Hà Văn Trung. Phái bộ đi trên tàu Phấn Bằng - một loại tàu buồm giăng ngang (square-rigged ship) mà triều đ́nh Huế dùng làm tàu buôn lúc bấy giờ - khởi hành vào tháng 1-1844 và về lại vào tháng 7 năm đó.

Đại Nam thực lục (sẽ ghi tắt là Thực lục) cho biết là “ trước kia, dưới triều Minh Mệnh [chắc hẳn là chuyến đi vào tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 21, tức 1840]”, Trí Phú đă được phái đi mua tàu hơi nước, đó là các tàu Yên Phi, Vụ Phi, và Hương Phi, v.v. Nhưng những tàu này chỉ thuộc loại cỡ nhỏ. Trong cùng mục tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Thực lục cho biết : “ Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền... Tàu mua lần này là loại tàu lớn, mang tên là Điện Phi hoả cơ đại thuyền ”. Điện Phi là “ tên do vua Thiệu Trị đặt ”, bởi lẽ tàu “ chạy nhanh như bay ”, c̣n “ hoả cơ đại thuyền ” nói nôm na là tàu hơi nước (steamer) cỡ lớn. Sau đó, Thực lục đă dành đến vài trang nhằm miêu tả tàu Điện Phi, trong đó có đoạn nói về tốc độ kinh dị của chiếc tàu này như sau : “ Từ cửa biển Cần Giờ tỉnh Gia Định ra kinh [Thuận Hoá] lệ thường đi hoả tốc bằng ngựa mất 4 ngày 6 giờ 5 khắc, tàu Điện Phi chạy chỉ cần 3 ngày 6 giờ, tức là nhanh hơn ngựa phóng nước đại trên đất liền đến 1 ngày 5 khắc ”.

Phải chăng một trong những mục tiêu chính của phái bộ đi Hạ Châu năm 1844 là để mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước cỡ lớn này ? Có lẽ đúng thế. Mặc dầu Thực lục chỉ cho biết một cách tổng quát là “ trước đây Trí Phú đă được phái đi Giang-lưu-ba, làm việc phần nhiều chưa xong, cho nên lại sai đi ”. Chúng ta biết rằng trước đó, Trí Phú đă được phái đi vào năm 1840, và công việc “ phần nhiều chưa xong (đa vị thanh) ” trong chuyến đi đó chắc hẳn hàm ư việc mua chiếc tàu lớn chạy bằng hơi nước mà sau này được mang tên là Điện Phi.


Cần nói thêm là chuyến công cán mà CBQ tháp tùng chỉ đi trong ṿng 7 tháng và câu “ Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu chạy bằng hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền ” trong Thực lục khiến người ta có thể hiểu nhầm là chỉ trong thời gian 7 tháng mà Trí Phú đi sang Tây phương và đă mua được tàu Điện Phi mang về. Sự thật th́ như ta đă biết là phái bộ này không đi sang Tây phương. Vậy danh từ Tây dương trong Thực lục có nghĩa ǵ ?

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, kiến thức địa lư thế giới ở Trung Quốc và Việt Nam hăy c̣n hết sức hạn chế và tạp nhạp, ngay tờ quan báo do tỉnh Quảng Đông phát hành từ năm 1819 đến năm 1822 c̣n giải thích Bồ Đào Nha ở cạnh Malacca, mà Pháp và Bồ Đào Nha chỉ là một, hay nói một cách khác Pháp nằm kế cận eo biển Malacca ! Do đó, “ sang Tây dương ” trong trường hợp này không nhất thiết là phải đi sang các nước Âu Châu. V́ vô t́nh nhầm tưởng rằng “ sang Tây dương ” phải là sang Âu Châu, mà nếu đi bằng thuyền buồm th́ không thể nào sang Âu Châu rồi về lại trong một khoảng thời gian 7 tháng, nên học giả Trần Kinh Hoà đă gợi ư là phải chăng Đào Trí Phú đă đi Giang-lưu-ba (Jakarta) bằng tàu Phấn Bằng, “ rồi từ Jakarta đổi sang tàu khác để đi Tây dương (Pháp), và cuối cùng nhận tàu Điện Phi ở Pháp rồi lên tàu đó để đi thẳng về Thuận Hoá ”. Sự thật th́ không phải như vậy, v́ như chúng ta đă biết, phái bộ có CBQ tháp tùng đă không sang Âu Châu, mà chỉ đi các vùng thuộc địa của người Tây phương dọc theo eo biển Malacca. Nhưng căn cứ vào đâu mà chúng ta có thể đoán định được là tàu Điện Phi đă được mua ở Đông Nam Á ? Thông tin sau đây từ các nguồn tư liệu tiếng Anh mà chúng tôi t́nh cờ t́m thấy đă xác nhận điều đó.

Trước hết, cần nói rằng các nguồn tư liệu tiếng Anh mà chúng tôi đă xem đều nhấn mạnh vào thời điểm đó Xiêm (Siam) và An Nam là hai nước láng giềng có quan hệ rất xấu (very bad neighbours). Khi chiến tranh Nha phiến vừa bùng nổ, v́ nghe tin đồn là các chiến hạm Anh ở Trung Quốc sẽ tiện đường “ ghé viếng thăm [!] nước Xiêm ” một khi chiến tranh kết liễu, vua Xiêm lo sợ nên đă đặt mua nhiều súng ống và một chiếc tàu chạy bằng hơi nước qua công ty của ông Robert Hunter lo về việc mậu dịch giữa Bangkok với các nước Âu Châu. V́ các mặt hàng vua Xiêm đặt mua đến chậm, đến lúc sắp sửa giao hàng th́ chiến tranh Nha phiến đă kết thúc và nỗi lo sợ của người Xiêm bị vạ lây với Trung Quốc cũng đă nguôi lắng. Bởi thế, vua Xiêm làm khó, không chịu mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước theo giá hai bên đă thoả thuận lúc ban đầu. Hunter do đó mới đề nghị bán cho người An Nam – “ địch thủ của người Xiêm ”. Kết quả là Hunter bị trục xuất ra khỏi Bangkok, tuy sau đó có được phép trở về Xiêm để thu hồi tài sản. “ Trong thời gian ở Singapore, ông ta đă hoàn tất thủ tục bán chiếc tàu chạy bằng hơi nước cho người An Nam ”. Tóm lại, căn cứ vào thời điểm cùng những chi tiết của chứng từ trên, chúng ta có thể suy luận là : 1) chiếc tàu chạy bằng hơi nước mà thương nhân người Anh Robert Hunter bán cho An Nam chắn hẳn là tàu Điện Phi, 2) quá tŕnh mua bán tàu Điện Phi đă diễn ra ở Singapore chứ không phải ở Âu Châu.

Cũng theo các nguồn tài liệu tiếng Anh, mậu dịch giữa Việt Nam với các thuộc địa Anh thuộc vùng Hạ Châu chỉ bắt đầu sau khi tân cảng Singapore trở thành thuộc địa của người Anh (1819). Trước đó hầu như “ không có dấu vết ǵ về mậu dịch giữa Căm-pu-chia và Cochin-China với các thuộc địa Anh ở trên eo biển ”. Năm 1821, số thuyền mành (junk) đến Singapore từ hai nước này và Xiêm là 21 chiếc, và 3 năm sau (1824) số thuyền đến Singapore tăng lên thành 70 chiếc mỗi năm. “ Mậu dịch với Singapore rất bị hạn chế vào thập niên 1820, bởi lẽ phần lớn những sản phẩm của Cochin-China chỉ thích hợp với thị trường Trung Quốc, và chỉ có giai cấp thượng lưu ở Cochin-China và quân đội của nhà vua mới có nhu cầu về những hàng bông (cotton) và hàng nỉ (woollen) của Anh. Hàng nỉ của Anh dùng may trang phục cho quân đội của nhà vua hầu hết được đặt mua từ Quảng Đông ”. Mậu dịch giữa An Nam và Singapore do “ thần dân người Hoa trong nước đảm nhiệm ”. Báo cáo của toàn quyền Anh ở Singapore, John Crawfurd, về Luân Đôn cho biết là năm 1825 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc mậu dịch giữa Cochin-China và Singapore. Vào năm ấy, “ nhà vua [vua Minh Mạng] gửi hai thuyền mành có trang bị vũ khí cùng quan viên sang Singapore để mua hàng nỉ và hàng thuỷ tinh ”. Sau đó, nhà đương cuộc Anh đă “ khám phá là những quan viên này đến Singapore có nhiệm vụ nghiên cứu nhằm báo cáo về t́nh h́nh trên những thuộc địa của người Âu Châu ở eo biển Malacca ”. Tuy người ta không biết trong báo cáo đó đă ghi những ǵ, nhưng sau lần thăm viếng đó, triều đ́nh “ đă giành độc quyền mậu dịch với Singapore ”.

Ngoài ra, theo báo cáo của Isodore Hedde - một kư giả có đến Việt Nam vào mùa Xuân năm 1844 -, tuỳ theo thời điểm, những phái bộ đi công cán ở Hạ Châu dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị có mục đích khác nhau. Ví dụ, phái bộ năm 1832 là để “ diễn tập đi biển ”, năm 1835 nhằm “ nắm vững hải tŕnh và t́m hiểu h́nh thế cùng phong tục ”, năm 1840 là để “ chọn mua hàng hoá ”, năm 1842 là để “ diễn tập đi biển và để giải quyết những vấn đề chưa làm xong cho nội vụ phủ ”.

Hedde cũng cho biết một số chi tiết các mặt hàng xuất nhập giữa Việt Nam với Singapore trong khoảng những năm đầu triều vua Thiệu Trị : mặt hàng bán gồm có lụa chế tạo ở Trung Quốc và Việt Nam, chè xanh (green tea), vải trúc bâu Nam Kinh (nankeens), quế, sừng tê giác, gạo, đường, muối, ngà voi, da trâu, những loại gỗ quư, vàng bạc ; và hàng mua về gồm có vải lạc đà và hàng bông thường, có khổ dài để may áo quần cho quân đội, thiếc, nha phiến, súng ống, và một số sản phẩm Ấn Độ. V́ sao “ nha phiến ” là mặt hàng cấm nhập khẩu mà lại nằm trong danh sách này ? Ai là người đứng sau việc mua hàng đó ? Chúng ta không có đủ tư liệu để trả lời câu hỏi này một cách thoả đáng, chỉ biết theo các thông tin tản mạn trong Thực lục th́ Phó biện của phái bộ trong lần đi Hạ Châu năm 1844 là Trần Tú Dĩnh về sau bị giáng chức v́ tội “ buôn lậu ”, mà “ buôn lậu ” ǵ th́ không thấy nói rơ và ngay hư thực của vụ án cũng không thấy có sách nào nói đến.

Trong phạm vi của bài này, chúng ta có thể đoán định là ngoài nhiệm vụ diễn tập và mua bán, phái bộ đi Hạ Châu năm 1844 c̣n có mục đích mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước cỡ lớn mà sau này sẽ mang tên là Điện Phi.

2) Ấn tượng về văn minh Tây phương của Cao Bá Quát : Trong chuyến đi “ dương tŕnh hiệu lực ”, nhiệm vụ CBQ trong phái đoàn là ǵ ? Câu hỏi này từ trước tới nay h́nh như chưa có ai đưa ra. Theo thiển ư của chúng tôi, phải chăng v́ nổi tiếng xuất chúng về văn thơ chữ Hán, CBQ đă được giao phó trách nhiệm tiếp xúc với người Hoa trên các thuộc địa của người Âu Châu, bút đàm với họ nhằm t́m hiểu và thu thập thông tin về động tĩnh của người Âu Châu trên những vùng mà phái bộ ghé qua ? Trong những bài thơ CBQ sáng tác lúc xuất dương thỉnh thoảng có nhắc đến một vài thương nhân người Hoa mà tác giả đă gặp ; điều này ít nhiều khẳng định giả thiết nói trên. Ngoài ra, cần để ư là trong những bài thơ mà CBQ sáng tác trong thời kỳ xuất dương, ông có nhắc đến chức vụ của ông là “ tham quân ” và đă phần nào biểu lộ ư thức trách nhiệm của ông về chức vụ này. Ví dụ, CBQ viết : “ Nhật khiết ly cơ tam bách trản/Bất pḥng hoán tác tiểu tham quân ” (Mỗi ngày ta có thể uống ba trăm cốc rượu/Nhưng ta [dừng lại v́] không muốn làm cản trở công việc của một anh tham quân). Hoặc “ Phiếm sà mạn tự đàm Trương Sứ/Quyết nhăn bằng thuỳ điếu Ngũ Viên” (Bàn tới chuyện Trương Kiện cưỡi bè đi sứ [nhằm t́m hiểu t́nh h́nh bên ngoài]/Ai là người làm Ngũ Viên khoét mắt [can vua]). “ Tham quân ” thông thường là chức vụ của một “ văn quan được phái vào doanh quân giúp trưởng đơn vị xây dựng và chiến đấu, hàm Chánh Tứ phẩm Văn giai ”, hoặc hàm “ Ṭng Tam phẩm Văn giai ”. Như vậy CBQ đă tham gia phái bộ với tư cách là một văn quan được biệt phái và chức tham quân trong trường hợp của ông chắc hẳn có mục đích thu thập thông tin như chúng tôi đă tŕnh bày ở trên.

Cuộc hành tŕnh của CBQ kéo dài 7 tháng gồm những chuỗi ngày lênh đênh trên sóng nước, mênh mông biển rộng trời cao. Đọc những bài thơ CBQ sáng tác trong khoảng thời gian này, ta thấy những con tàu chạy bằng hơi nước đă gây ấn tượng mănh liệt đối với nhà thơ.

a) “ Hồng mao hoả thuyền ca ” : Như chúng ta đă biết, một trong những biểu tượng của Cách mạng công nghiệp ở Âu Châu vào giữa thế kỷ 18 là sự xuất hiện của đầu máy hơi nước. Đặc biệt sau khi chiếc tàu chạy bằng máy hơi nước đầu tiên được thí nghiệm thành công ở Scotland (1802), càng ngày càng có những bước tiến rơ rệt trong ngành hàng hải. Hải tŕnh thiên lư từ Âu Châu sang các nước Á Châu tưởng chừng như được rút ngắn lại. Khi các con tàu chạy bằng hơi nước trang bị với những họng súng đại bác đen ng̣m xuất hiện trên vùng biển Châu Á Thái B́nh Dương, chủ quyền của các nước Đông Á bắt đầu bị thách thức bởi làn sóng Tây xâm. Trước những cột khói đen, cao ngút trời và tiếng máy tàu nổ liên hồi như muốn át tiếng sóng gầm của biển cả, người trí thức Á Đông giật ḿnh trước sự tiến bộ của thế giới bên ngoài và cảm thấy bất an v́ t́nh trạng đ́nh trệ trên đất nước họ.

Năm 1841, tàu Pháp vào vụng Sơn Trà (Đà Nẵng), đă ngang nhiên cho lính đổ bộ lại c̣n cho bắn 80 phát súng đại bác thị uy. Rồi sáu năm sau (1847), chiến thuyền Pháp lại vào cửa Hàn, nổ súng uy hiếp. Câu ca dao Quảng Nam sau đây có lẽ đă ra đời vào thuở đó :

Tai nghe súng nổ cái đùng,
Tàu Tây đă tới Vũng Thùng anh ơi !

Tàu chạy bằng hơi nước của Anh trong chiến tranh Nha phiến

Cần để ư là CBQ đă xuất dương chính vào lúc chủ quyền lănh thổ ở Trung Quốc và ở Việt Nam đang bị đe doạ trầm trọng : 2 năm sau khi những chiếc thuyền mành lỗi thời của nhà Thanh không địch lại sức mạnh cơ khí của những chiến hạm chạy bằng hơi nước của người Anh trong chiến tranh Nha Phiến và 3 năm sau khi chiến thuyền Pháp lần đầu tiên vào bắn phá ở cửa biển Đà Nẵng.

Trên boong tàu Phấn Bằng, nh́n “ con vật khổng lồ quái dị ” chạy bằng hơi nước đang rẽ sóng phăng phăng từ xa tiến lại, CBQ đă sáng tác bài Hồng mao hoả thuyền ca (Bài thơ về chiếc tàu chạy bằng hơi nước của người Anh). Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà lời thơ của CBQ trong bài này đượm vẻ khẩn trương, hùng tráng.

Cao yên quán thanh không Khói ùn lên tuốt trời xanh,
Ổng tác bách xích đôi Đùn lên cao ngút ba trăm thước liền,
Yêu kiều thuỳ thiên long Rồng trời sa xuống nghiêng nghiêng,
Cương phong xuy bất khai. Mặc cuồng phong thổi con thuyền chẳng sao !

CBQ miêu tả khá chi tiết con tàu kinh dị này : cột tàu cao chót vót, con quay gió đứng im (nguy tường ngật lập, ngũ lạng tĩnh), ở giữa có ống khói phun khói lên cao ngất (tu đồng trung trĩ, phún tác yên thôi ngôi), bên dưới có hai bánh xe xoay chuyển liên hồi đạp sóng dồn (hạ hữu song luân triển chuyển đạp cấp lăng), guồng quay, sóng đánh tung toé ầm ầm như tiếng sấm rền (luân phiên lăng phá, ẩn kỳ sinh nộ lôi).

b) H́nh ảnh người phụ nữ Tây phương : Trong những bài thơ CBQ làm khi xuất dương, có hai bài thơ nói đến người phụ nữ Tây phương. Trước hết, ta hăy xem bài Dương phụ hành (Bài hành “ Người phụ nữ Tây phương ”) :

Tây dương thiếu phụ y như tuyết, Cô gái phương Tây áo như tuyết,
Độc bạn lang kiên toạ thanh nguyệt. Ngồi kề vai chồng dưới ánh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh, Nh́n sang thuyền ta đèn sáng choang,
Bả duệ nam nam hướng lang thuyết. Níu áo cùng chồng nói rối rít.
Nhất uyển đề hồ thủ lăn tŕ, Uể oải cốc sữa biếng cầm tay.
Dạ hàn vô ná hải phong xuy. Gió bể e chừng đêm lạnh đây !
Phiên thân cánh thiến lang phù khởi, Nhích lại c̣n đ̣i chồng đỡ dậy,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly ! T́nh ta ly biệt có ai hay !

Hoá Dân dịch

Mặc dầu tác giả không nói rơ, chúng ta có thể h́nh dung là con thuyền của phái bộ Việt Nam lúc ấy đang cắm neo cạnh chiếc tàu của người phương Tây. Đêm về, tàu đậu trên bến cảng đă lên đèn, đặc biệt trong thuyền Việt Nam đèn thắp sáng trưng. Nh́n sang tàu bên, nhà thơ CBQ thấy một phụ nữ đang nũng nịu với chồng. Với cặp mắt tinh tế, không thiên kiến, và với ng̣i bút điêu luyện, CBQ đă phác hoạ bằng những nét chấm phá cá tính năng động của một người phụ nữ phương Tây trong quan hệ nam nữ : “ tự dựa vào vai chồng ” (độc bằng lang), “ níu tay áo chồng nói chuyện ríu ra ríu rít ” (bả duệ nam nam hướng lang thuyết), hoặc “ nghiêng ḿnh, lại nhờ chồng nâng dậy ” (phiên thân cánh thiến lang phù khởi). Đối với CBQ, những ǵ hiện ra trước mắt ông hoàn toàn mới lạ bởi lẽ trong xă hội Việt Nam nói riêng hay Đông Á nói chung vào thuở ấy, thông thường người phụ nữ không có những ứng xử tự do đối với chồng như thế. Chắc hẳn cảnh sum họp này đă làm nhà thơ chạnh nhớ gia đ́nh, bởi thế CBQ mới kết thúc bài thơ bằng câu : “ đâu biết có một người Việt Nam đang ở trong cảnh xa nhà ” (khởi thức Nam nhân hữu biệt ly).

Mười sáu năm sau đó, năm 1860, khi Fukuzawa Yukichi (Phúc-trạch Dụ-cát; 1835-1901) - một trí thức có ảnh hưởng rất lớn đến quá tŕnh canh tân của Nhật Bản vào thời Minh Trị - tháp tùng phái bộ do chính quyền Tokugawa gửi sang Hoa Kỳ nhằm phê chuẩn điều ước giao thương Nhật-Mỹ, điều khiến Fukuzawa ngạc nhiên nhất cũng là những phong tục tập quán hàng ngày - đặc biệt là những khía cạnh có liên quan tới vấn đề giao tế nam nữ. Chẳng hạn, khi phái bộ Nhật vừa đến San Francisco, Fukuzawa được mời tham dự một dạ vũ. Trong tự truyện, Fukuzawa thuật lại ấn tượng ban đầu khi thấy người Tây phương khiêu vũ như sau : “ Tôi lấy làm lạ v́ không biết người ta đang làm ǵ : các bà, các ông cứ chạy đi chạy về miết trên sàng ! Tôi phải ráng nín cười v́ sợ thất lễ ”. Hoặc giả một hôm Fukuzawa cùng những người trong đoàn được mời đến ăn cơm tối với gia đ́nh một người Mỹ gốc Hà Lan, “ khi bữa ăn thịnh soạn sắp sửa được bày dọn trên bàn, điều tôi [Fukuzawa] thấy kỳ lạ nhất là bà chủ nhà vẫn ngồi trên ghế tṛ chuyện tỉnh bơ với khách, trong khi ông chủ nhà th́ xăng xít điều động người giúp việc dọn thức ăn ra cho khách. Điều này thật hoàn toàn trái ngược với phong tục tập quán ở Nhật Bản ”. Trong tự truyện của Fukuzawa Yukichi, các mẩu chuyện nho nhỏ về quan hệ nam nữ trong việc giao tế hàng ngày ở Hoa Kỳ được xếp trong phần mang tiểu đề là “ Nữ trọng nam khinh ” (trọng nữ khinh nam) - một tiêu đề khá ấn tượng nhằm nói lên sự khác biệt với khuynh hướng “ nam trọng nữ khinh ” (trọng nam khinh nữ) trong xă hội Nhật Bản lúc bấy giờ. Hai năm sau (1862), khi Fukuzawa có dịp thăm viếng Âu Châu, điều khiến người trí thức samurai (vơ sĩ) này ngạc nhiên cũng là những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người phụ nữ, chẳng hạn như ở Pháp có nhiều trường học cho nữ sinh, số nữ sinh cao, và chế độ ưu đăi về lương bổng cho các nữ giáo viên.

So với Fukuzawa Yukichi, mặc dầu những nhận xét về người phụ nữ Tây phương của CBQ chỉ giới hạn trong lănh vực cá nhân và chỉ được diễn tả qua những nét chấm phá đơn sơ của một bài thơ, nhưng không phải v́ thế mà không đáng được chú ư. Lư do là : 1) dù chưa đi các nước Âu Mỹ và chỉ có dịp quan sát con người Tây phương qua thuộc địa của họ ở vùng Hạ Châu, CBQ đă tỏ ra tinh tế và nhạy cảm ; 2) trong mảng thơ văn đi sứ hay đi công cán ở nước ngoài của các sứ thần Việt Nam vào thế kỷ XIX, bài thơ của CBQ về người phụ nữ Tây phương là một trường hợp rất hiếm hoi và có ư nghĩa bởi lẽ điều này nói lên cá tính phóng khoáng của CBQ - không chịu bó ḿnh trong những khuôn phép Nho giáo. Chính những khuôn thước g̣ bó của Nho giáo đă ngăn chận các sứ thần Việt Nam hay Trung Quốc khi đi sứ ở Tây phương quan sát hay ghi lại những điều ǵ có liên hệ đến nếp sống của người phụ nữ nói riêng hay sinh hoạt hàng ngày của dân chúng nói chung, mà phần lớn chỉ để ư đến các h́nh thức bên ngoài có tính cách lễ nghi.

b) Ư thức đồng văn đồng chủng đối với người Trung Quốc : Như đă tŕnh bày ở trên, trong chuyến đi dương tŕnh hiệu lực CBQ giữ chức “ tham quân ” và nhiệm vụ của ông có lẽ là thu thập thông tin về động tĩnh của các nước Tây phương ở vùng Hạ Châu.

Khi tiếp xúc với người Hoa, v́ ngôn ngữ bất đồng, “ bút đàm ” (nói chuyện bằng bút) là phương tiện duy nhất để CBQ có thể tṛ chuyện với người Hoa. Nói cụ thể là cả hai bên đều viết chữ Hán lên giấy để đàm thoại. Cần nói rơ là không riêng ǵ thế hệ của CBQ, mà măi về sau - hơn 60 năm sau chuyến đi công cán ở Hạ Châu của CBQ - khi Phan Bội Châu sang Nhật Bản và khởi đầu phong trào Đông Du, bút đàm vẫn là phương tiện để trao đổi ư kiến khi tiếp xúc với người nước ngoài. Như chính Phan Sào Nam tiên sinh đă thuật lại trong tự truyện : “ Trung tuần tháng tư, Nhật-Nga chiến sự đă xong, mới có thuyền Nhật Bản đến Thượng Hải. Chúng tôi nhờ có ông lưu Nhật học sinh người Trung Quốc tên là Triệu Quang Phục người Hồ Nam làm người chỉ đường cho chúng tôi, chung nhau ngồi thuyền Nhật Bản đi Hoành Tân. Đến lúc đó mới phát sinh một việc rất khốn nạn : tiếng Nhật đă không thông mà tiếng Tàu lại ú ớ, nói phô bằng bút, giao thiệp bằng tay, phiền luỵ không biết chừng nào ! Ngoại giao mà như thế, thất đáng xấu hổ ! ”

Hoàng Liên Phương (Huang Lianfang) là một thương nhân người Hoa ở Singapore mà CBQ chắc hẳn đă tiếp xúc để bàn chuyện thời sự nhằm t́m hiểu t́nh h́nh. Qua bút đàm, có lẽ CBQ cảm thấy tâm đầu ư hợp với Hoàng, chính v́ thế nên một số bài thơ trong tập Hạ Châu tạp thi của CBQ có đề cập đến nhân vật này.

Ví dụ, trong bài Dữ Hoàng Liên Phương ngữ cập hải ngoại sự, hữu sở cảm, tẩu bút dữ chi (Cùng Hoàng Liên Phương bàn chuyện hải ngoại, có điều cảm xúc, viết nhanh tặng ông) đă trích dẫn ở trên, CBQ bày tỏ niềm vui mừng được gặp Hoàng là người có thể san sẻ nỗi ḷng : “ Khói sóng muôn dặm, ta vẫn là người khách lạ/Trăng gió ba xuân, nay được gặp ông ” (Vạn lư yên ba do tác khách/Tam xuân phong nguyệt thặng phùng quân). Trước nạn Tây xâm (CBQ nói bóng là Tây phong), do ư thức “ đồng văn đồng chủng ” (cùng văn hoá và cùng chủng tộc), CBQ xem số phận của người Việt Nam và người Trung Quốc không mấy khác nhau - thậm chí gắn liền với nhau. Chính do ư thức đó nên ông đă viết : “ Ta cũng là nhân vật cũ của Trung nguyên/Ngoảnh đầu hướng gió Tây, lệ tuôn lă chă ” (Ngă thị Trung nguyên cựu nhân vật/Tây phong hồi thủ lệ phân phân). Hoặc giả khi trông thấy người Hoa ở Singapore ngồi xem diễn tuồng một cách vô tư như thể đă quên cái nhục nhà Thanh thua trận trong chiến tranh Nha phiến, trong bài Dạ quan Thanh nhân diễn kịch trường (Đêm xem người Thanh diễn tuồng), CBQ đă trách họ như thể là trách người cùng nước : “ Chuyện Hổ Môn gần đây anh chẳng biết sao ? / Đáng trách ai người nghển mũi ngồi xem ! ” (Hổ Môn cận sự quân tri phủ/Thán tức hà nhân ủng tỵ khan).

Theo lối nh́n của CBQ, v́ ngay chính Trung Quốc cũng phải thất bại đau đớn khi đụng độ với Tây phương, sau chiến tranh Nha Phiến (“ Tự tùng Hán mă thông Tây khí ”) ở Đông Á không c̣n nước nào có thể ngăn chận làn sóng Tây xâm hung hăn (“ cuồng ba ”). Bởi thế nên ông đă viết :

Giang hải thôi di thế mạc hồi, Chuyển di sông biển thế ngày nay,
Y Xuyên dă tế sử nhân ai. Đền miếu Y Xuyên ngẫm tủi thay !
Tự tùng Hán mă thông Tây khí, Từ độ tàu Tây hơn ngựa Hán,
Thuỳ chướng cuồng ba vạn lư lai ? Sóng cuồng muôn dặm tính sao đây ?

Hoặc giả :

Bắc cố yên vân nhăn quyện khan, Ngùi trông phương Bắc khói mênh mang,
Trung nguyên dĩ biến cựu y quan. Mũ áo Trung nguyên đă đổi màn,
Mao đầu nhất khí vô nhân thức, Cờ mao đâu nhỉ, ai nào biết ?
Dương hoá do thông Bá-lư-đan. Bá-lư-đan nay cũng nhập hàng !

Tuy nhiên, không phải CBQ đă hoàn toàn bi quan trước hiểm hoạ Tây xâm. Ông tin tưởng là thiên nhiên sẽ có sức kỳ diệu xua đuổi kẻ xâm lăng. Bởi vậy, CBQ đă kết thúc bài Hồng mao hoả thuyền ca như sau : “ Các người chẳng thấy : Khi nước từ vũng Vỹ Lư rót vào tảng đá Ốc Tiêu / Ngọn lửa khủng khiếp sẽ bốc lên đến tận mây xanh / Khi kim nam châm của la bàn đi biển chỉ về hướng Đông th́ hăy coi chừng / Thuỷ triều sớm chiều chả giống như ở biển Tây đâu ! (Quân bất kiến : Vỹ Lư chi thuỷ hối Ốc Tiêu/Kiếp hoả trực thượng thanh vân tiêu/Khai châm Đông khứ thận tự giới/Bất tỷ Tây minh triêu mộ trào). Dịch thơ :

Ngươi chả thấy : Vỹ Lưu nước chảy,
Chạm Ốc Tiêu lửa cháy bừng bừng,
Mây xanh lên thẳng mấy từng,
Về Đông ngươi hăy coi chừng tấm thân,
Ngay như con nước xuống, dâng,
Không như Tây hải, lần chần chuốc nguy !

Về danh từ Vỹ Lưu, thiên Thu thuỷ (thiên nổi tiếng nhất trong sách Trang Tử) có đoạn nói như sau : muôn sông đều chảy ra biển nhưng biển không bao giờ tràn nước ; ngược lại, nước biển chảy ra không ngừng qua lỗ thủng ở Vỹ Lưu mà nước biển chẳng có lúc nào cạn. Lời chú của Kê Khang trong bài Dưỡng sinh luận c̣n cho biết rằng khi nước từ Vỹ Lưu chảy dồn đến một tảng đá cực lớn gọi là Ốc Tiêu th́ bốc cháy dữ dội, thiêu huỷ mọi vật. Ở đây dĩ nhiên CBQ muốn cảnh cáo ư đồ bành trướng sang Đông Á của các nước Tây phương. Cũng cần nói thêm Kê Khang (223-262 sau CN) là người nước Nguỵ thời Tam Quốc, tự là Thúc Dạ, nhân vật được nể v́ nhất trong nhóm “ Trúc lâm thất hiền ”. Tuy làm quan đến chức Trung tán Đại phu, Kê Khang chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lăo Trang, tính t́nh phóng khoáng, cầm, kỳ, thi, hoạ nghề ǵ cũng giỏi. Việc tác giả trích dẫn từ Trang Tử hay các điển cố đượm màu sắc Lăo Trang thay v́ lấy từ những kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh cũng nói lên đôi nét về diện mạo tư tưởng cùng cá tính phóng túng, không muốn ép ḿnh theo khuôn thước Nho giáo của CBQ.

Ư thức cảnh giác của CBQ về sự hiện diện có tính cách ḍm ngó của các chiến hạm Tây phương trên vùng biển Đông Á h́nh như đă ăn sâu vào tâm khảm của nhà thơ sau khi về nước. Trong bài Thập ngũ nhật đại phong (Ngày rằm gió lớn) sáng tác sau một đêm nghe tiếng sóng gầm từ cửa biển Thuận An vọng về kinh thành, CBQ ước mơ sẽ có ngọn “ gió Đông ” của Chu Du ngày trước sẽ đuổi sạch chiến hạm Tây phương ra khỏi bờ cơi :

Nhất dạ trường phong hám hải đài, Đêm qua sóng biển thét gầm vang,
Thuận An môn ngoại lăng như lôi. Hải trấn rung ḿnh -- cửa Thuận An !
Thiên thu thượng tác Chu Lang khí, Ngàn thu nộ khí Chu Lang vẫn,
Yếu đả Hồng Mao cự hạm hồi ! Đuổi bạt tàu Tây chạy ngút ngàn !

*Trên đây chúng tôi đă t́m hiểu mục đích cụ thể của chuyến đi công vụ ở Hạ Châu năm 1844 mà CBQ là một thành viên. Trong nửa phần sau, chúng tôi đă phác hoạ đôi nét chính về những cảm nhận ban đầu của CBQ khi tiếp xúc với văn minh Tây phương trong thời gian xuất dương.

Ngoài những điểm mà chúng tôi đă tŕnh bày trên đây, qua những bài thơ CBQ sáng tác lúc xuất dương, chúng ta c̣n thấy tác giả đă cảm nhận được vấn đề kỳ thị chủng tộc trên các vùng đất thuộc địa của người da trắng. Nói cụ thể, người Tây phương th́ “ ngồi mát ăn bát đầy ” trong khi người dân da màu phải làm quần quật, thể hiện qua cảnh “ người da đen đánh xe cho người da trắng ” (cá cá ô nhân ngự bạch nhân). Qua chuyến xuất dương, CBQ bừng tỉnh là trước đây, khi c̣n ở trong nước tựa như ếch ngồi đáy giếng, nào khác “ trông con báo mà chỉ thấy một vằn ” (ngu kiến chân thành báo nhất ban). Bởi thế, sau khi về nước, CBQ ư thức được thói trọng từ chương, ưa hư văn trong lối học cử tử bất quá chỉ là tṛ đùa con trẻ : “Tân Gia từ vượt con tàu / Mới hay vũ trụ một bầu bao la / Giật ḿnh khi ở xó nhà / Văn chương chữ nghĩa khéo là tṛ chơi / Không đi khắp bốn phương trời / Vùi đầu án sách uổng đời làm trai”.

Điều cần để ư là măi hơn 70 năm sau đó, vào giữa thập niên 1910, sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở hải ngoại và bị quân phiệt Trung Hoa bắt giam ở Quảng Đông, Phan Bội Châu cũng đă ghi lại trong Ngục trung thư tâm trạng thất vọng về t́nh h́nh giáo dục trong nước nói chung và cho chính bản thân cụ nói riêng : “ Tôi từ nhỏ tới lớn, vốn có tư chất thông minh, công phu đèn sách giùi mài cũng không bê trễ, nhưng kết quả chẳng qua chỉ là sự học khoa cử mà thôi... Bà con ta muốn cỡi mây lướt gió không thể nào không mượn con đường khoa cử, dầu ai có muốn chẳng theo thời đi nữa, cũng không có đường học nào khác hơn mà đi. Than ôi ! Chổi cùn trong nhà, tự ḿnh xem là của quư, sự ưa thích lâu đời đă thành thói quen thành ra rốt cuộc tôi cũng bị thời trang trói buộc đến nỗi tiêu hao ngày tháng về nghiệp khoa cử gần hết nửa đời người. Đó là vết nhơ rất lớn trong đời tôi vậy ”.

Tóm lại, qua những bài thơ CBQ sáng tác trong thời kỳ xuất dương và sau khi về nước, ta thấy tác giả không chỉ là một nhà thơ đa tài mà c̣n là một trí thức mẫn cảm trước thời cuộc. Trên thực tế, CBQ có lẽ là một trong số ít người Việt Nam đă cảm nhận rất sớm – ngay giữa thập niên 1840 – về mối hiểm hoạ Tây xâm và chế độ khoa cử lỗi thời chỉ dựa trên từ chương và hư văn. Những vấn đề này sẽ tiếp tục là đề tài nóng bỏng đối với đất nước trong suốt hơn một thế kỷ sau đó. Những nhận thức và nỗi bức xúc trong CBQ dĩ nhiên chưa vượt khỏi phạm vi cảm tính. Nguyên nhân suy yếu của đất nước và con đường canh tân sẽ được Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), một nhân vật có sở học uyên bác mà không bị trói buộc bởi lối học khoa cử, tŕnh bày cụ thể và có mạch lạc qua các bản điều trần của ông gởi cho triều đ́nh trong thập niên 1860. Điều thật đáng tiếc là những lời điều trần đầy tâm huyết của nhà trí thức nh́n xa thấy rộng nhất ở Việt Nam vào hậu bán thế kỷ XIX này, v́ bị đ́nh thần nghi ngờ và đố kỵ cũng đă không thay đổi được ǵ vận mệnh của đất nước.

Trong chữ Hán, danh từ “ tiên giác ” dùng để chỉ người thấy sớm hơn những người cùng thời các sự việc chưa xảy ra. Tiên đoán về tiền đồ u ám của đất nước ngay vào giữa thế kỷ XIX, CBQ đáng được xếp vào trong số những nhà tiên tri tiên giác rất hiếm hoi ở Việt Nam vào thời điểm đó.

Ở Nhật Bản, sau khi bốn chiến hạm của đề đốc Hoa Kỳ Matthew Perry đến yêu cầu chính quyền Tokugawa bakufu mở cửa giao thương (1853), t́nh h́nh chính trị ở Nhật Bản trở nên vô cùng xáo động. Yoshida Shôin (Cát-điền Tùng-âm ; 1830-1859) là nhà tiên giác (senkakusha) hàng đầu ở Nhật Bản. Sinh b́nh, Shôin là một chí sĩ thường quan tâm đến hiểm hoạ Tây xâm. Dưới danh nghĩa pḥ Thiên hoàng, Shôin hô hào lật đổ chính quyền Tokugawa nhằm đối phó với t́nh h́nh khẩn trương lúc đó. Sau khi việc mưu sát sứ giả của chính quyền Tokugawa ở Kyoto mà Shôin có tham gia bị thất bại, ông bị hạ ngục và hành quyết năm 1859 – 5 năm sau khi CBQ bị hành quyết ở Mỹ Lương.

Phải chăng sự trùng hợp đầy tính bi kịch giữa hai nhà tiên giác CBQ và Yoshida Shôin chỉ có tính cách ngẫu nhiên ?
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Khi nhà nho chống tham nhũng

Nguyễn Nhân Thống

Nhà nho không những là người đi đầu trong việc chống mọi bất công của xă hội phong kiến, mà c̣n tham gia lănh đạo của các phong trào nông dân nổi dậy.

Cao Bá Quát, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm. Thuở nhỏ lúc c̣n đi học trường làng, ông đă nổi tiếng là hay chữ. Trong làng ông, Lư trưởng có hay ăn bớt, ăn xén của công và ăn đút lót của dân. Thày Lư được lệnh đắp 2 con voi để đặt trước sân đ́nh. Với số tiền quan trên cho, ai ai cũng tưởng 2 con voi sẽ đẹp đẽ lắm. Đến chừng xem ra th́ mọi người đều ngă ngửa, thấy con voi vô cùng xấu xí, nên bàn tán nhỏ to măi về tài đắp voi của thầy Lư. Cao Bá Quát không thèm nói suông mà tặng cho thầy Lư một bài thơ dán trước đ́nh làng :

Khen ai khéo khéo đắp đôi voi

Đủ cả đầu đuôi, đủ cả ṿi

Chỉ có cái kia sao chẳng thấy

Hay là thầy Lư bớt đi rồi ?

Thầy Lư ra xem, bụng cứ tức ấm ức, nhưng chẳng nói ǵ được.

Nguyễn Quy Tân (Nghè Tân), quê ở làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đỗ tiến sĩ dưới triều Thiệu Trị. Ông được bổ làm quan nhưng tính t́nh phóng khoáng nên ông từ quan, rồi đi ngao du đây đó.

Lúc c̣n làm quan thanh tra, ông thường cải trang đi điều tra tư cách, đạo đức và việc làm của các quan lại. Một hôm, ông giả làm người thợ đóng cối xay lúa vào nhà quan tổng đốc. Đóng từ sáng đến trưa mà chẳng thấy quan cho ăn uống ǵ. Đến chiều, ông lên công đường cũng chẳng thấy quan làm việc. Nghè Tân liền leo lên chiếc sập sụ giữa nhà đánh một giấc ngon lành.

Lính thấy thế mới vào tŕnh quan. Quan cho gọi ông vào quở mắng và định đánh đ̣n. Ông kêu là ḿnh học tṛ nghèo nên phải đi đóng cối xay để kiếm ăn. Nghe vậy quan liền chỉ lên bức tranh vẽ một con quạ và 100 con chim sẻ treo ở tường bảo phải vịnh một bài thơ. Ông xin giấy viết liền 2 câu thơ :

Nhất chích, nhất chích, hữu nhất chích

Tứ, ngũ, lục, thất bát, cửu chích...

Quan nh́n vào chưa rơ ư thế nào. Sau đó Nghè Tân viết tiếp:

Hà ô chi thiểu, điểu chi đa ?

Thực tận dân gian thiên vạn thạch!

Nghĩa là :

Một sẻ, một sẻ lại một sẻ

Bốn, năm, sáu, bảy, tám chín sẻ

Quạ sao lại ít, sẻ sao nhiều ?

?n sạch cuả dân muôn vạn hộc !

Quan Tổng đốc nghĩ thầm : "Không khéo nó muốn chơi xỏ ḿnh là kẻ ăn hại chăng" Quan lớn liền hỏi:

- Chữ anh đẹp, văn anh hay, vậy đă đi khi khoá nào chưa?

- Có, đă thi đậu rồi !

- Đậu ǵ ?

- Tiến sĩ.

Quan giật ḿnh liền hỏi lại :

- Đậu ǵ nào ?

- Tiến sĩ.

Sau đó, Nghè Tân nói rơ chức vụ và nhiệm vụ của ḿnh. Quan tổng đốc vội tụt xuống khỏi ghế, vái lấy vái để xin lỗi.
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Cao Bá Quát - nhà thơ lớn thế kỷ 19

Cao Bá Quát (1808 - 1855) là nhà thơ xuất sắc của Việt Nam thế kỷ 19. Ông tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, Cúc Đường, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Cao Bá Quát cùng người anh song sinh là Cao Bá Đạt nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Thân sinh của hai ông là Cao Cửu Chiếu, một nhà nho hay chữ, có ước vọng khi lớn lên, các con ḿnh sẽ trở thành quan đại thần của triều đ́nh nên lấy tên của hai hiền sĩ đời Chu cũng là hai anh em sinh đôi để đặt tên cho hai con.

Ngay từ nhỏ, Cao Bá Quát đă có giọng văn hùng hồn, ư tứ mạnh mẽ, thể hiện ư chí của người tài hoa. Lưu truyền rằng Cao Bá Quát thường nói: Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ḿnh tôi chiếm hai bồ, anh tôi và bạn tôi, Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, c̣n bồ thứ tư chia cho thiên hạ. Khi theo học ở trường Bắc Ninh, danh tiếng của Cao Bá Quát đă lừng lẫy.

Năm 1832, ông đi thi Hương, đỗ á nguyên tại trường thi Hà Nội, sau đó về kinh đô (Huế) thi Hội, nhưng thi măi không đỗ (truyền rằng do các quan chấm thi ghét ông kiêu ngạo nên đánh hỏng). Năm 1841, nhờ sự tiến cử của quan tỉnh Bắc Ninh, Cao Bá Quát được vào kinh đô nhậm chức Hành tẩu Bộ Lễ. Tuy làm quan, cuộc sống của ông cũng hàn vi, không thay đổi.

Tháng 8-1841, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy. Ông cùng người bạn lấy muội đèn chữa giúp. Việc bị phát giác, đáng lẽ ông bị xử chém, nhưng sau được xét lại chỉ bị cách chức, bị tù ba năm, phát phối đi Đà Nẵng. Về sau nhân có Đào Tri Phủ đi sứ sang Indonesia, ông được tha và được cử theo phái đoàn phụ tá công việc. Trở về nước, ông được khôi phục chức cũ, một thời gian rồi bị thải. Năm 1847, Cao Bá Quát được gọi vào làm việc ở Viện Hàn Lâm, sưu tầm văn thơ. Hồi ấy, Tùng Thiện Cộng lập ra Mạc Vân thi xă, được nhiều quan văn trong triều tham gia, hưởng ứng. Giai thoại kể rằng có lần Cao Bá Quát được xem những bài thơ của "Mạc Vân thi xă" đă lắc đầu, bịt mũi ngâm:

"Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xă con thuyền Nghệ An"

(ví thơ của thi xă như mùi thuyền chở nước mắm Nghệ An). Hai vị công khanh Tùng Thiện Công, Tuy Lư Công chẳng những không giận v́ thái độ của Cao Bá Quát mà c̣n nhún ḿnh đến kết giao. Thấy nhà ông thanh bần, hai vị c̣̣n giúp đỡ vật chất. Cảm kích thái độ của hai vị công khanh, Cao Bá Quát gia nhập Mạc Vân thi xă. Trong thời gian này, ông đă xướng họa nhiều bài hay nổi tiếng, đến đỗi vua Tự Đức, một người giỏi và chuộng văn chương phải khen ngợi văn tài của ông là một trong bốn tay cự phách của Mạc Vân thi xă:

"Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường"

(Văn của Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát có thể hơn thời tiền Hán, thơ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lư Vương lấn át ngay cả thơ đời thịnh Đường). C̣̣n người đương thời th́ tôn gọi ông là Thánh Quát (cùng với Nguyễn Văn Siêu là Thần Siêu, Thánh Quát). V́ hay châm biếm vua và triều đ́nh nên ông bị đẩy khỏi kinh đô (1850) ra làm giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây, một vùng heo hút, nghèo nàn.

Tại đây, chứng kiến những nỗi cơ cực của nhân dân, thông cảm với sự bất b́nh của đại chúng, ông đă bí mật kết giao với nhiều bạn bè, dựng cờ khởi nghĩa ở đất Mỹ Lương (1854). Nghĩa quân lấy danh nghĩa phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc sư, chống lại triều đ́nh. Song cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài được mấy tháng th́ bị dập tắt. Cao Bá Quát bị viên suất đội Đinh Thế Quang bắn chết giữa lúc ông đang ở trận tiền. Nhà Nguyễn đă trả thù, tru di ba họ của ông. Các tác phẩm của ông đều bị cấm tàng trữ, thu hồi và đốt hết.

Tuy nhiên, tác phẩm của Cao Bá Quát vẫn sống măi trong ḷ̣ng người. Những cố gắng sưu tầm sau này đă thu thập được trên một ngh́n bài thơ, phú bằng chữ Hán và chữ Nôm của ông. Thư viện Khoa học Xă hội Việt Nam hiện có trên 12 tập mang tên Cao Chu Thần thi tập, Mẫn hiên thi loại, Cúc Đường thi thảo, v.v. Nhiều bài thơ chữ Hán, thơ ca trù và bài phú Tài tử đa cùng của ông, được nhiều thế hệ thuộc ḷ̣ng. Qua các sáng tác đó, Cao Bá Quát hiện ra là một nhà thơ có bản lĩnh. Tâm hồn ông bao trùm thiên nhiên, gắn bó với quê hương đất nước. Ông ca ngợi các anh hùng dân tộc: Phù Đổng Thiên vương, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi; trân trọng các nhà chí sĩ Chu Văn An, Nguyễn Trăi. Ông cũng rất quan tâm đến số phận của người dân lao động lầm than. Đặc biệt, một số bài chứng tỏ ông có tầm nh́n xa rộng, khác với những nhà nho, nhà thơ đương thời. Ông phàn nàn về lối học từ chương "nhai văn nhá chữ", ông cảm thấy cái nguy cơ xâm lược của bọn thực dân phương Tây (như trong bài Hồng mao hỏa thuyền ca). Nổi bật lên là một niềm ưu ái lo đời, khắc khoải v́ không có cách ǵ làm cho thiên hạ thái b́nh:

Thái b́nh vô nhất lược,
Lộc lộc sĩ vi nho

(Không có kế ǵ cho thiên hạ thái b́nh,
Thẹn ḿnh là anh nhà nho kém cỏi).

Trước đây, nhiều người cho rằng Cao Bá Quát là một người khinh bạc, kiêu ngạo và nhất là có giấc mộng đế vương. Nhưng tác phẩm của ông, không hề thấy một tư tưởng hay một phong cách nào như thế! Nói đến t́nh quê hương, t́nh bè bạn, nghĩa vợ chồng, Cao Bá Quát lúc nào cũng chân t́nh tha thiết. Có những chuyện nói ông xấc láo với Minh Mệnh, Tự Đức hay chửi bới bọn quan lại là "thượng hạ giai cẩu" v.v. Thực ra chỉ là những hư cấu, mượn ông để đả kích bọn cầm quyền. Cả những câu thơ như "Ba hồi trống giục mồ cha kiếp v.v." Ba ṿng dây sắt bước th́ vương v.v. cũng đều là những câu chuyện gán ghép v́ sẵn mối cảm t́nh với ông mà tưởng tượng ra
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Thơ Việt Cổ Điển : Thi Hào Cao Bá Quát

Lư Lăng Nhân

Mục đích bài biên soạn ngắn nầy là để nhắc lại văn tài đặc sắc của một thi sĩ cổ điển Việt Nam trong một bối cảnh lịch sử xô-bồ của nuớc Việt lúc giao thời. Nếu trong những công tŕnh khảo cứu văn chuơng Anh Pháp có những sự t́m ṭi nghiên cứu về văn thơ cổ điển La tinh và Hy lạp, trong khuôn khổ nghiên cứu văn học Việt nam sự tái khám phá những tác phẩm giá trị thi ca Hán-Việt của những thế kỷ truớc cũng hào hứng và có thể bổ ích cho những công tŕnh sáng tạo mới của nền thi ca Việt nam hiện đại.

Trong kho tàng thơ văn Việt nam cổ điển, ngoài thi hào nổi tiếng Nguyễn Du với tác phẩm bất hủ thơ Nôm Thúy Kiều, chúng ta c̣n có thi hào Cao Bá Quát với những bài Ca Trù và thơ Hán-Việt đặc sắc của ông.

Cao Bá Quát, hiệu là Chu Thần, sinh năm 1809, mất năm 1854; quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (Bắc Việt).

Ông đậu Cử nhân và đuợc bổ làm Giáo Thọ ở Phủ Quốc Oai. V́ bất măn với chế độ thời bấy giờ nên ông theo giúp Lê Duy Cự nổi loạn chống lại Triều Đ́nh năm 1854. Mưu sự thất bại ông bị bắt và xữ tử.

Trong lănh vực văn chuơng cổ điển Việt Nam ông đuợc xem là một thiên tài. Vua Tự Đức đă khen tặng ông rằng: “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán…”. Dân gian ưa thích thơ văn của ông đến độ tôn sùng ông là “Thánh Quát.”

Phát xuất từ một cảm quan sâu sắc và một hồn thơ tinh tế, thơ của ông rất hàm súc với một lối nh́n và diễn tả độc đáo, khác với đa số thơ văn biền ngẫu đầy điển tích đuợc ưa chuộng thời bấy giờ. V́ truớc đây đă có rất nhiều sách vở và tài liệu văn học tŕnh bày về thi ca Nôm của Cao Bá Quát rồi, nên trong bài nầy tôi chỉ xin giới thiệu một số thơ Hán-Việt của ông mà thôi.

Đọc thơ Nôm hay Hán-Việt của Cao Bá Quát nguời ta phải công nhận nét hành văn tả chân đặc biệt của ông v́ nó nói lên đuợc những rung động tinh tế của một tâm hồn đa cảm và chung t́nh; những nỗi niềm riêng tư, thầm kín, chân thành – một đặc điểm chỉ thịnh hành trong thi ca Việt hiện đại với phong trào thơ mới. Một điểm khác là trong những bài thơ Hán-Việt của ông là tuy xử dụng chữ Hán – loại văn tự hầu như chính thức trong văn chuơng bác học Việt nam so với chữ Nôm phổ thông trong thi ca dân gian vào thời đó – nhưng ông lại sính dùng điệp ngữ Hán-Việt, chẳng hạn như : trùng-trùng, hạo-hạo, dạ-dạ, phi-phi, du-du, thu-thu, phiếm-phiếm, âm-âm, tức-tức, lạc-lạc, … Sự lựa chọn từ ngữ độc đáo nầy làm cho lời thơ ông có một nhịp điệu và âm huởng đặc biệt gần gũi với tiếng Việt ṛng, do đó thơ Hán-Việt của ông có một sắc thái nhịp nhàng, dồi dào nhạc tính, truyền đạt đuợc nhiều ấn tuợng thi vị đặc sắc, có lúc nhẹ nhàng, bóng bẫy, có lúc sắc bén, thâm trầm, thấm đuợm đặc tính thi ca Việt thuờng chỉ có thể t́m thấy trong văn thơ Nôm thuần túy mà thôi.

Trong khuôn khổ ngắn ngủi của bài giới thiệu nầy – và cũng để tránh sự nhàm chán cho các độc giả ít quen thuộc với thơ cổ điển Hán-Việt của thế kỹ truớc - trong số hơn trăm bài thơ Hán-Việt của thi sĩ họ Cao đă để lại tôi chỉ chọn và phỏng dịch 12 bài sau đây mà tôi cho rằng có thể tiêu biểu cho những cảm xúc riêng tư của tác giả, nỗi nhớ quê huơng và gia đ́nh thân yêu khi tha huơng đối bóng, nỗi buồn thấm thía, chán chuờng của sự thất bại trong sự nghiệp, nỗi đau xót ngậm ngùi lúc trở về làng cũ, những t́nh cảm sâu đậm giữa bạn bè tri kỹ, cũng như những cảm giác mới mẻ lúc công du hải ngoại. Với nỗi buồn bàng bạc đây đó qua thơ của ông chúng ta cũng không khỏi thấm thía buồn lây với nỗi thất vọng ngỡ ngàng, chua chát về cuộc sống “phù danh” của buổi giao thời mà ông đă chứng kiến trong cuộc đời bất-đắc-chí của ông và chính ông đă gói ghém nó trong 2 câu hát nói đắng cay:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cuời…

Trong những bài dịch từ Hán văn ra Việt văn dịch giả Lư Lăng Nhân cố gắng diễn dịch bằng thể thơ lục-bát 6/8 – một thể thơ thuần túy Việt nam, để nhại lại tiếng ru êm đềm của thi ca Việt chảy trong huyết quăn nguời Việt, như một âm vang thân thiết tiềm ẫn măi trong tâm hồn kẻ ly huơng. Tuy nhiên v́ sự dị biệt giữa hai ngôn ngữ Hán Việt nếu có một vài chỗ phải dịch thoát ư, hay phải rút ngắn tựa bài thơ cho dễ nhớ, th́ đó là truờng hợp bất khả kháng, ngoài ư muốn của dịch giả.

Madison, AL., tháng 01, năm 2004


Nhật Tảo Quá Hương Giang

Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên
Trần lộ du du song quyện nhăn
Viễn t́nh hạo hạo nhất qui tiên
Kiều đầu xa mă phi ngô sự
Phả ái nam phong giác chẩm biền.

Sáng Qua Sông Hương

Núi xa lẫn trốn ruộng xanh
Sông dài như kiếm long lanh cuối trời
Thuyền chài vẳng tiếng ḥ lơi
C̣ đôi co cẳng im hơi ngủ ngày
Mắt ṃn hun hút đường dài
T́nh quê roi vút cảm hoài xót xa
Đầu cầu xe ngựa phồn hoa
Gió nam tỉnh giấc hồn ta mộng ǵ.

Đáo Gia

Song mấn tiêu tiêu bất tự tri
Hương thôn chỉ điểm thị qui kỳ
Mộc miên điếm lư sương thu tảo
Thiên mă hồ biên nhật thướng tŕ
Lân hữu hốt phùng kinh sác vấn
Mẫu thân sạ kiến hỉ giao bi
B́nh sinh đa nạn kim trường hối
Úy hướng gia nhân ngữ biệt ly.

Về Mái Nhà Xưa

Hoa râm mái tóc chẳng ngờ
Trở về làng cũ thẩn thờ bước chân
Đồn xưa cây cũ sương giăng
Hồ im nắng gội ngày xanh biếng về
Hỏi chào hàng xóm e dè
Mẹ già mừng tủi con về hôm ni
Cuộc đời hoạn nạn sầu bi
Nhắc chi hai chử biệt ly năo nề.

Trệ Vũ Dạ

Tế vũ phi phi dạ bế môn
Cô đăng minh diệt tiểu vô ngôn
Thiên biên chinh khách khuê trung phụ
Hà xứ tương tư bất đoạn hồn.

Đêm Mưa Dầm

Mưa đêm lất phất cửa gài
Đèn chong một ngọn nỗi nầy nói chi
Người chinh phụ, kẻ biên thùy
Tương tư hồn đoạn khác ǵ hỡi ai.

Vọng Phu Thạch

Độc lập sơn đầu đệ nhất phong
Chu điêu phấn tạ vị thùy dung
Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ
Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng
Huyết lệ yên ḥa minh nguyệt thấp
Hương hoàn vân tích lục đài phong
Thiên hoang địa lăo t́nh do tạc
Dạ dạ xao tàn bích đỗng chung.

Ḥn Vọng Phu

Đầu non đá tạc h́nh hài
Son phai phấn nhạt v́ ai ngóng chờ
Nguời đi xa xứ vắng thơ
Biển trời cách biệt mịt mờ nước non
Máu ḥa lệ khói trăng tṛn
Mây giăng tóc phũ rêu c̣n rũ xanh
Trời già đất cổi chung t́nh
Đêm đêm vẳng tiếng chuông rền động xa.

Thu Dạ Độc Tọa

Minh nguyệt nhập tiền hiên
Cô ảnh khuy thanh tôn
U nhân ái dạ tọa
Tương đối diệc vong ngôn
Khởi lập miện không vũ
Nhân chi thiệp nhàn viên
Tức tức hầu trùng ngữ
Thu thu giang điễu huyên
Minh cư đạm độc thích
U thưởng diệu tự luân
Bạc chước sấn lương dạ
Úy ngă cơ lưu hồn.

Đêm Thu Một Ḿnh

Ánh trăng chênh chếch qua hiên
Đêm thanh một bóng nghiêng nghiêng ảnh sầu
Nguời buồn vốn thích đêm thâu
Ngồi im đối bóng lặng sâu không lời
Trời cao chẳng chút mưa rơi
Nguời nhàn tản bước dạo chơi cuối vườn
Nỉ non trùng dế gọi hờn
Bên sông chim hót giọng c̣n thiết tha
Đêm dài duy chỉ ḿnh ta
Người quen cảnh vắng phôi pha nỗi buồn
Đêm thanh an ủi mộng hồn
Chén hoa xóa nỗi cô đơn ít nhiều.

Thành Vị Giă Ca

Cộng thán tương phùng văn
Tương phùng thị khách trung
Quản huyền kim dạ nguyệt
Hương quốc kỷ thu phong
Lệ tận tôn nhưng lục
Tâm hôi chúc tự hồng
Cựu du phương lạc lạc
Nhất khúc mạc từ chung.

Người Ca Sĩ Thành Vị

Gặp nhau biết mấy thở than
Nh́n nhau đất khách can tràng đổi trao
Đêm trăng đàn sáo quyện nhau
Quê xưa cách mấy thu nào nhớ chăng
Lệ rơi thấm ướt áo xanh
Tim ai đau xót đuốc dành bóng đêm
Phương trời bạn cũ xa xăm
Khúc ca tiếc với tri âm làm ǵ.

Thăng Long Cựu Kinh Cảm Tác

Đệ nhất phồn hoa thử cựu kinh
Nùng sơn Nhị thủy tối cao thanh
Thiên niên thành quách không kim cổ
Thập lư nha phường lăo tử sinh
Hàn thực hầu gia yên sắc đạm
Hương phong tửu điếm liễu hoa minh
Bất kham phiếm đĩnh Tây hồ nguyệt
Cố quốc tà dương địch sổ thanh.

Thăng Long Cảm Xúc

Phồn hoa đây chốn cựu thành
Núi Nùng, Sông Nhị lưu danh nhất đời
Ngàn năm thành quách chẳng dời
Mười phường phố đó bao đời tử sinh
Lầu trang Tiết lạnh khói yên
Hương bay quán rượu liễu xinh hoa cười
Hồ Tây thuyền dạo trăng soi
Quê xưa tiếng sáo chiều rơi bóng tà.

Giả Biệt Gia Nhân

Vong t́nh tự tiếu ngă hà năng
Ai lạc niên lai tiệm bất thăng
Nại biệt hữu giam tàng cựu kính
Công sầu vô ảnh bạn cô đăng
Chẩm biên hương mộng tam canh viễn
Cân lư sương mao nhất dạ tăng
Thủy niệm xuân hàn trung lộ khách
Ngưu y lang tạ lệ thành băng.

Từ Biệt Người Nhà

Vong t́nh luống thẹn cho ḿnh
Buồn vui thôi đă lỗi t́nh với ai
Gương xưa c̣n cất giữ đây
Đèn khuya một ngọn sầu tây vô h́nh
Phương trời canh vắng một ḿnh
Sương đêm dầy dặc nặng t́nh cố hương
Nhớ khi đất khách xuân tàn
Lệ rơi thấm áo ngự hàn giá băng.

Châu Trung Cảm Tác

Nhất bích ngưng vi giới
Trùng vân nhiễu tác thành
Viễn phong xung hải lập
Cao Lăng tiếp thiên b́nh
Hương quốc tam xuân ư
Kiền khôn vạn lư t́nh
Đă lâu tần bắc vọng
Độc kiến tảo yên hoành.

Trên Thuyền Cảm Tác

Trời xanh nước biếc một làn
Mây đùn giăng phủ như thành mới xây
Triều dâng sóng dựng vờn mây
Núi xa xa thẵm biển đầy nước cao
Ba xuân cách biệt quê nào
Đất trời muôn dặm t́nh sao hững hờ
Lầu thuyền xa ngóng thẩn thờ
Khói mây hướng Bắc mịt mờ sương mai.


Kư Hữu Phương Đ́nh

Thập niên ác bút phí quang âm
Đồ băo tiên ưu hậu lạc tâm
Thân sự dữ vân tranh tụ tán
Thế cơ như thủy trục thăng trầm
Cố viên cúc tĩnh thu ưng trưởng
Tiểu các mai hàn dạ độc ngâm
Tự tiếu đa t́nh tiêu vi đắc
Phù danh hoàn khước ngộ tri âm.

Gửi Bạn Phương Đ́nh

Mười năm cầm bút uổng công
Vui sau lo trước c̣n trông ngóng ǵ
Thân như mây tụ tán đi
Đời như con nước theo th́ thấp cao
Vườn xưa cúc nở thu nào
Xuân nay gác vắng mai chào tiếng ngâm
Nực cười thói cũ đa t́nh
Phù danh thẹn gặp tri âm bấy chầy.

Tự Quân Chi Xuất Hĩ

Tự quân chi xuất hĩ
Dạ dạ thủ không sàng
Hăi nguyệt chiếu cô mộng
Giang phong sinh mộ lương
Tiểu kính kư viễn thiếp
Hàn y lưu cô pḥng
Tŕ thủ các tự úy
Bất khiến luợng tương vong.

Từ Ngày Anh Ra Đi

Từ ngày anh bước chân đi
Đêm đêm hiu quạnh giường kia lạnh lùng
Trăng soi mộng lẽ canh trường
Gió qua bến lạnh chiều sương gợi sầu
Gương soi anh nhớ h́nh nhau
Pḥng xưa áo lạnh em nào lăng quên
Ấp yêu kỹ niệm êm đềm
Tháng năm đâu có nhạt t́nh nhớ thương.

Hạ Châu Hành Tức Sự

Lâu các trùng trùng giáp thủy tân
Tùng âm lương xứ dị hoa xuân
Thiết ly vô tơa qui xa nhập
Cá cá ô nhân ngữ bạch nhân.

Bài Thơ Hạ Châu

Ven bờ lầu phố chập chùng
Hoa xinh nở dưới bóng tùng rợp cao
Mở tung cổng sắt xe vào
Hầu nguời da trắng toàn nào da đen.




...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Tế Cao Bá Quát Nhắn Nguyễn Du - Bùi Chí Vinh


Thiên hạ chữ nghĩa bốn bồ
Ḿnh ông giữ đến hai bồ, ớn chưa
Được một bồ, giặc thành vua
Ngốn hai bồ chữ, ông thua nghiệp thầy
Học tṛ người ngợm dăm tay
Chọc con chó cái Quốc Oai sủa buồn
Trường giang như kiếm... ĺa nguồn
Đôi hàng xích sắt bước... vương chân rồi
Ba hồi trống giục, ông ơi
Bao giờ châu chấu rợp trời bay cao

NHẮN NGUYỄN DU

Mười tuổi,
Học và làm thơ
Năm hai mươi tuổi,
Giang hồ và yêu...
Ba mươi,
Trai gái đă nhiều
Gớm thay cái gă Thúy-Kiều-đàn-ông
Trót yêu động
Lỡ thương pḥng
Mái chèo khiêu khích ḍng sông Tiền Đường
Tuột quần,
Không sợ đoạn trường
Chỉ e một nỗi văn chương chết ch́m
Nguyễn Du ơi, gặp Đạm Tiên
Nhắn giùm có gă nọ thèm chiêm bao

Bùi Chí Vinh
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.