Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
Bà Huyện Thanh Quan.
Topic Started: Jul 28 2006, 08:01 AM (313 Views)
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007
III. THÁI ĐỘ "HOÀI LÊ" HAY TÂM TRẠNG CÔ ĐƠN TUYỆT ĐỐI
Xưa nay, nhiều nhà phê b́nh văn học đă xếp thơ Bà Huyện Thanh Quan vào khuynh hướng hoài cổ, v́ bà có những bài thơ nói lên ḷng luyến tiếc nhà Lê với quá khứ vàng son đă qua, một quá khứ huy hoàng của đất Bắc. Những bài thơ như "Thăng long hoài cổ", "Chùa Trấn Bắc " đă được đem ra phân tích dưới cái nh́n đó.
Nhưng gần đây, một số nhà phê b́nh mới đă bác bỏ nhăn quan này. Họ cho rằng Nữ sĩ đă sống vào sáu bảy thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, dưới triều các Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, là lúc triều Nguyễn đă đi vào quy củ vững vàng, đă tự khẳng định như một vương triều chính thống. Và chính bà cũng như chồng, đều là quan nhà Nguyễn, nào có ăn lộc ǵ của Vua Lê Chúa Trịnh mà phải có thái độ "hoài Lê"? Chuyện đó có lẽ chỉ đúng cho Nguyễn Du, Nguyễn Huy Hổ là những người có gia thế vọng tộc gần gũi với Tiền triều. C̣n nỗi buồn của bà, theo như họ khẳng định, đó là nỗi buồn của một tâm trạng cô đơn. Trong 6 bài thơ của bà đă có 4 bài thơ buồn, tất cả đều chứa đầy tâm sự mà không t́m được người san sẻ:
Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.
Ngay cả cảnh vật, tuy thật gần gũi để bà gửi gắm tâm t́nh, nhưng vẫn không chia xẻ được sự cô quạnh của bà "cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường". Khác hẳn với Nguyễn Khuyến, ngay khi cô đơn như sư cụ chùa Đọi th́ c̣n có khói mây:
Sư cụ nằm chung với khói mây.
Hoặc Tản Đà th́ vẫn c̣n có mặt trăng:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Hay như Hồ Xuân Hương, lúc buồn c̣n có "non" và "nước":
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.
C̣n Bà Huyện Thanh Quan th́ như cô đơn tuyệt đối, một tâm trạng thể hiện rơ nét trong hai câu cuối của bài "Qua đèo Ngang"
Dừng chân đứng lại trời, non nước
Một mảnh t́nh riêng ta với ta.
Chỉ c̣n lại "ḿnh" đối diện với ḿnh trên đèo Ngang trong buổi chiều tà; "không c̣n là sự gửi gắm, miêu tả, bộc bạch" mà là tác giả tạc tượng "nỗi cô đơn của ḿnh vào đất trời, vũ trụ". Một h́nh tượng độc đáo: kiên vững , đầy nghị lực, dường như không muốn làm phiền ḷng, bận tâm người khác, mà chỉ âm thầm chịu đựng một ḿnh. Có phải là v́ những ngày xa chồng, xa nhà khi nhận chức Cung trung giáo tập ở kinh thành Huế đă tạo trong bà nỗi buồn cô độc? Hay là v́ chồng bà sớm qua đời nên bà thấy lẻ loi và luôn nhớ lại một dĩ văng không bao giờ trở lại? Và "Xuân Hương thi Tập" có nói đến danh mục các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, cho rằng bài "Thăng Long hoài cổ" lúc đầu có tên là "Quá phu quân cố lị cảm tác" (Qua chốn chồng làm quan cũ); nếu điều thi tập nói ở trên là đúng, th́ quả là Nữ sĩ đă mượn thơ để diễn tả cảnh ngộ của ḿnh chứ không phải là thái độ "hoài Lê". Bà đă đi từ bi kịch cá nhân của ḿnh tới cái nh́n về sự biến thiên đổi dời của thiên nhiên và xă hội, sự đổi dời mà con người không cách chi ngăn giữ, mà chỉ c̣n lại nơi những tâm hồn nhạy cảm sự tiếc nuối xót xa, xót xa về một quá khứ với những kỷ niệm riêng tư, hạnh phúc gia đ́nh. "Nh́n chung, th́ để dẫn đến một tâm trạng có rất nhiều nguyên nhân, hà tất chỉ là nỗi ḷng người đó gán cho một triều đại nào!"(6)
Lập luận trên thật vững chắc và có cơ sở, nhưng sẽ không đủ nếu chúng ta nói Bà Huyện Thanh Quan không có thái độ hoài Lê. Có điều phải định rơ là nên hiểu thế nào về thái độ đó:
Làm người, ai cũng nhớ đến sinh quán, quê hương; nhất là người giầu t́nh cảm như Nữ sĩ Thanh Quan, bà làm sao quên được Thăng Long, đất ngàn năm văn vật. Đă biến đâu rồi những cung son điện ngọc, mà chỉ c̣n trơ lại những cột găy tường siêu, sân rêu mái đổ. Làm bà phải cất tiếng than:
Tạo Hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Thời gian trôi mau quá, những hành cung lộng lẫy của hôm qua, nay chỉ c̣n là phế tích hoang tàn, làm sửng sốt và đau ḷng người luôn chắt chiu những kỷ niệm xa xưa:
Trấn Bắc hành cung cỏ dăi dầu
Chạnh niềm cố quốc gợi ḷng đau.
Một quá khứ vàng son đă biến đi đâu mất, chỉ c̣n lại cỏ mùa thu trên đường mà ngựa xe nay vắng bóng, chỉ c̣n bóng chiều tà trên sân chầu của văn vơ bá quan:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Điều đó càng thấm thía hơn đối với Bà Huyện Thanh Quan thuộc về một gia đ́nh khoa hoạn thời Lê mạt. Tuy bà không hưởng lộc ǵ của Vua Lê Chúa Trịnh , và từng làm quan với nhà Nguyễn, nhưng chắc chắn bà cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp của các cựu thần nhà Lê như Phạm quư Thích, Nguyễn Du, Nguyễn Lư. qua những lời giảng dạy của cha ḿnh . Nhất là đường hoạn lộ của chồng bà không phải lúc nào cũng xuông xẻ, chuyện ông đă từng bị cách chức v́ lời thơ phóng khoáng của bà, chắc cũng đă từng làm bà chán nản với cái bă lợi danh hiện tại mà thêm tưởng nhớ tiền triều.
Nhớ nước đau ḷng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Chúng ta nhớ đây là nước cũ 300 năm của Vua Lê, là nước "Bắc hà" đă bị Chúa Nguyễn ở Nam hà ra chiếm cứ. Không những họ chả giữ ǵn những lâu đài người xưa để lại, mà cũng chả dám tin dùng những sĩ phu của đất Bắc ngh́n năm văn hiến. Cũng là sự đổi thay của các triều đại, thế nhưng sao vua Quang Trung lại trọng vọng bầy tôi nhà Lê đến thế: người đă mời Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích ra trao cho những chức vụ quan trọng, c̣n ai không nhận quan tước th́ cho về quê cũ yên ổn làm ăn. Những vua nhà Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng th́ lại khác, khinh thường, nghi kị, hoặc dùng cho có lệ; khiến cho những cựu thần nhà Lê như Nguyễn Du, Nguyễn Huy Hổ, và có lẽ ngay cả Nữ sĩ Thanh Quan cũng đă mang mặc cảm mà thêm thương nhớ tiền Triều. Huống hồ lại có thêm một lư do tâm lư, đó là tự ái bị tổn thương: tự ái địa phương, tự ái cá nhân. Đành rằng những nhà thơ chúng ta vừa kể trên đều có tâm hồn khoan ḥa, phóng khoáng; nhưng chắc không khỏâi bất nhẫn trong ḷng khi thấy đất Bắc hà bị bỏ bê và coi là phụ thuộc, ngay cả cái tên "Thăng Long" cũng bị thay để xoá nḥa quá khứ; rồi chính ḿnh cũng phải quỵ lụy vua quan triều đ́nh Huế, những kẻ khác biệt về tính t́nh, phong tục, học thức, mà lại xét nét, kiêu căng .
Ở đây, cũng cần minh định rơ ràng là Bà Huyện Thanh Quan, cũng như những cựu thần nhà Lê, đă chẳng tiếc ǵ cái ngai vàng mục nát với chính sự đổ nát của thời Lê mạt Trịnh suy, chả quư ǵ một vua Lê Chiêu Thống "cơng rắn cắn gà nhà", hay một Chúa Trịnh Khải chỉ biết bắt nạt vua Lê mà lại khiếp nhược trước kiêu binh Tam Phủ. Thái độ hoài Lê của Nữ sĩ không có tính cách chính trị, chỉ là tâm t́nh. Trước cảnh hoang tàn của đất Bắc thời nhà Nguyễn, bà đau ḷng nhớ tiếc một quá khứ xa xưa, "một quá khứ có lẽ chính bà cũng không tường tận lắm và cũng chưa thọ hưởng ân huệ ǵ, nhưng đó là quá khứ của tiền bối, của gia đ́nh, của quê hương ḿnh, cho nên t́nh cảm dễ tô màu khả ái ". Nhất là vào lúc cuối đời, trong lúc cô đơn, quá khứ đó đă sống lại huy hoàng trong tâm hồn cao đẹp của bà, một tâm hồn luôn nhạy cảm, yêu thơ, yêu dân, và yêu nước.

IV. KẾT LUẬN
Ḍng văn học chữ Nôm có ba nữ sĩ tài ba: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, và Bà Huyện Thanh Quan; mỗi người một vẻ, đă tô điểm cho văn học Việt nam những nét tuyệt vời. Hồ Xuân hương, với nét trẻ trung tươi mát, tạo thêm tính lạc quan yêu đời; Đoàn Thị Điểm, với ḷng chung thủy thắm thiết, đă nêu cao truyền thống của người phụ nữ Việt nam nghĩa t́nh sâu đậm ; và bà Huyện Thanh Quan, với sự đoan trang, kiên nghị, hoài cổ, đă tạo thêm nghị lực trung trinh, ḷng yêu mến trân trọng quá khứ của tiền nhân và gia đ́nh. Tương lai nằm trong quá khứ, chúng ta thêm thấu hiểu và kính trọng Nữ sĩ khi đọc lại những ḍng thơ chứa đầy tâm sự của bà, những bài thơ giúp ích cho chúng ta xây dựng tương lai khi đă nhớ thương, yêu mến những di sản của cha ông.
Nếu có thể ví Văn chương chữ Nôm như một kho tàng chứa đầy châu ngọc, th́ với tài năng kiệt xuất của ḿnh, Bà Huyện Thanh Quan đă chọn lọc và gọt dũa những viên ngọc để kết thành vương miện cho Nàng Thơ. Trên vương miện đó, số châu ngọc tuy không nhiều, nhưng thật đẹp, thật quư. Tạo nên dáng vẻ yêu kiều tôn quư cho một Nàng Thơ đài các, uy nghi, khiến bao người trầm trồ chiêm ngưỡng. Bao thế hệ yêu thơ sau này, đă như giới thi sĩ của đất Thăng Long xưa, sẽ măi măi bày tỏ ḷng ngưỡng mộ tri ân khi nh́n vào vương miện của bà đă làm cho Nàng Thơ trong lâu đài Văn Hoá Việt, một công tŕnh rực rỡ của một Nữ Sĩ đoan trang đầy tài năng và đức hạnh trong ḍng văn học Việt Nam.
---
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.