| Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit. You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free. Join our community! If you're already a member please log in to your account to access all of our features: |
| Bà Huyện Thanh Quan; Ngọc trong thơ | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jul 28 2006, 07:59 AM (311 Views) | |
| kimcuongbien | Jul 28 2006, 07:59 AM Post #1 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
II. "NGỌC" TRONG THƠ Thể thơ Đường luật của Trung Hoa có một bố cục chặt chẽ, với số chữ và số câu hạn chế, lại thêm những quy luật niêm và đối phức tạp.Với chữ Hán đă khó, dùng chữ Nôm lại c̣n khó hơn. Nhất là về ư, thơ lại mượn cảnh để diễn tả tâm t́nh, phải có một sự hoà hợp giữa tâm hồn và ngoại cảnh, giữa t́nh cảm và lư trí. Rồi "ư tại ngôn ngoại": dùng chữ diễn ư, sao cho ngắn gọn, đầy đủ; nhưng cũng "ư bất thành văn": lại vẫn như c̣n thiếu cái ǵ đó để gợi thêm tưởng tượng và tâm t́nh, như "trời chiều bảng lảng". Thật hay nhưng thật khó, thế mà điều đó có được nơi thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Có thể nói rằng những câu thơ của bà thật đẹp và khó có một chữ thừa: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá, đá chen hoa. Ngay cách đảo ngữ cũng làm cho câu văn ngắn gọn, mạnh mẽ; nhưng lại thật trong sáng, nhẹ nhàng: Gác mái, ngư ông về viễn phố Gơ sừng, mục tử lại cô thôn. Và nhất là những từ ngữ, h́nh ảnh, âm điệu đối xứng với nhau thật đẹp, thật hay: Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước c̣n cau mặt với tang thương "Trơ gan" đối với "cau mặt", rồi đem những động từ đó gán cho "đá" và "nước", là những biểu tượng của sự vô hồn, dửng dưng, làm chúng sống động nhờ sự "nhân cách hoá". Làm thơ như thế, thật khó có ai b́. Đọc thơ của bà, chúng ta thấy có một cái ǵ thật đoan trang, tao nhă, như thấp thoáng một h́nh ảnh trang nghiêm, đài các, nhưng không cổ kính, khô khan mà lại thật thanh thoát, nhẹ nhàng: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương . Có thể ví thơ bà với h́nh ảnh bộ chén kiểu Trung Quốc có vẽ h́nh sơn thủy Việt Nam, đă được Vua Minh Mạng đem ra khoe, và yêu cầu bà làm thơ vịnh, Nữ sĩ đă không đắn đo lên giọng đọc: Như in thảo mộc trời Nam lại Đem cả sơn hà đất Bắc sang. Có cái ǵ cổ kính như một nước Trung Hoa với hàng ngàn năm truyền thống, luôn đặt nặng sơn hà. Nhưng cũng có cái ǵ thật xanh tươi, dịu mát, như cây rừng, cỏ lúa của quê Việt mến yêu. Tâm hồn của Nữ sĩ là ở đó, một tâm hồn biết vận dụng những h́nh ảnh của ḿnh và của người, tâm t́nh và ngôn ngữ. Bà cũng đă dùng những thi điệu thật uyển chuyển, nên thơ dù tả những cảnh xưa và theo thể thơ Đường, nhưng vẫn không bị g̣ bó. Trong thơ như có nhạc, và nhạc đó làm nao ḷng người, v́ thật hợp t́nh, hợp cảnh: Sóng lớp phế hưng coi đă rộn Chuông hồi kim cổ lắng mà mau. Có lẽ bà đă từng ngắm những lớp sóng xô đẩy nhau trên mặt Hồ Tây mà nghĩ tới sự suy thịnh đổi thay của các triều đại, cũng như nghe tiếng chuông chùa lúc nhặt lúc khoan, gợi sự biến thiên của đời người và trần thế . Những h́nh ảnh đó đă làm bà cảm khái để dệt nên những vần thơ bất hủ , gieo vào ḷng người một sự trầm lắng sâu sa. Nhưng đẹp nhất và tuyệt nhất trong thơ của Nữ sĩ là cách dùng chữ thật điêu luyện, thần t́nh. Những ư và lời đă được bà dùng những chữ thật chính xác để diễn tả, như những viên ngọc được chọn lọc và gọt dũa. Những nhà phê b́nh có thể đề nghị sửa một chữ trong thơ của Tản Đà (3) hoặc của những nhà thơ mới để thêm đậm nghĩa hay tạo nhạc điệu, nhưng chưa thấy ai đề nghị sửa "chữ" nào trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông rợ mấy nhà Hay: Xanh um cổ thụ tṛn xoe tán Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ. Những chữ đă nói lên đầy đủ ư nghĩa, h́nh ảnh, màu sắc, mà lại thật sáng sủa, tươi đẹp, nhẹ nhàng, làm cho người đọc có ấn tượng: không thiếu, không dư. Tóm lại, thơ Đường Luật của Việt Nam trước kia thường mắc phải hai tật: nếu nghiêng về chữ Hán th́ nặng nề, cổ kính, có lúc tối nghĩa v́ những điển cố, nghĩa chữ; nếu nghiêng về chữ Nôm th́ quê kệch, chất phác, đôi khi trúc trắc, khó hiểu v́ những tiếng không phổ thông. May mắn thay, tới đầu thời nhà Nguyễn, chúng ta có hai nữ sĩ kiệt xuất là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, nên hai tật đó đă được vượt qua. Nói như cố giáo sư Phạm Thế Ngũ "Thơ Hồ xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bảy, duyên dáng, thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh thoát, nhẹ nhàng.Hồ xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng b́nh dân vươn lên thể hiện trong một h́nh thức bác học. Thanh Quan đại biểu cho cái tinh thần tao nhă nho sĩ kết tinh lại cùng với tinh túy của bài Đường thi trong một ngôn ngữ Hán Việt đă hoàn toàn Việt hoá"(4). Để nói riêng về Bà Huyện Thanh Quan, cố giáo sư đă không tiếc lời khen ngợi, và có lẽ chúng ta cũng đồng ư với ông rằng: "Thơ Đường trước bà người ta đă làm vô số, sau bà người ta cũng c̣n làm vô số. Nhưng trước cũng như sau, có lẽ không ai vượt được Nữ Sĩ Thanh Quan".(5) |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| « Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic » |








2:16 AM Jul 12