Welcome Guest [Log In] [Register]
Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Username:   Password:
Add Reply
TÔ LỊCH; Hai phía ḍng sông
Topic Started: Jul 9 2006, 02:09 PM (360 Views)
kimcuongbien
Member Avatar
Giải IV Hội Thi EVT 2007

Quê Hương
--------------------------------------------------------------------------------


Tô Lịch - hai phía ḍng sông

--- Nguyễn Khắc Phục ---



Sông Tô Lịch khai sinh từ bao giờ th́ không ai biết, chỉ biết sử sách ghi tên con sông này cách thời chúng ta đang sống dễ chừng đă gần hai ngh́n năm.

Khi Thăng Long được hoài thai trong ḷng châu thổ th́ Tô Lịch là cuống rốn đưa thức ăn của Mẹ Đất Đai đến nuôi cái bào thai ấy lớn dần lên qua mỗi mùa đắp đổi, bồi tích phù sa cho những cánh đồng Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Dịch Vọng, Thanh Tŕ... tạo nên những bầu vú ăm ắp nguồn sống nguyên khai chờ đón đứa con Thăng Long chào đời trong ṿng tay ôm ấp của sông Cái. Và khi ấy, Tô Lịch trở thành ḍng sữa dồi dào cho kinh thành bú mớm.

Nhưng tại sao con sông nổi tiếng này lại có một biệt danh nữa là Nghịch Thuỷ? Số là, Tô Lịch lúc b́nh thường khá hiền lành nhưng đến mùa lũ, bao nhiêu nước đồng dồn hết cả xuống Tô Lịch, thế nước chênh hơn mực sông Cái, đâm ra nước lại chảy ngược từ Nhuệ Giang ra Nhị Hà. V́ thế người ta mới gọi Tô Lịch bằng cái tên nghe khá ngỗ ngược, Nghịch Thủy - con sông chảy ngược!

Giờ đây, trên ḍng sông ấy đâu c̣n ai đủ gan hứng thú buông chèo, thả hồn miên man, ngẫm ngợi đến thân phận một ḍng sông đang mất đi vẻ thơ mộng và huyền ảo. Cũng chẳng c̣n tao nhân mặc khách nào lắng nghe sóng vỗ dưới mạn thuyền và câu hát mơ màng:

Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, quán G̣ trăng khuya...

Ôi, hai phía của một con sông, dữ dội và êm đềm khiến ta chợt nhận ra: thế giới hiện đại hay ho thật, Hà Nội bây giờ to đẹp hơn trước thật, nhưng lắm lúc nhớ lại những "thế gian biến cải vũng nên đồi" mà giật ḿnh thon thót. Lắm lúc, thay v́ chờ nghe bản tin dự báo thời tiết hay bản phân tích những ǵ sắp diễn ra của các nhà dự báo học, ta thèm nghe dân gian kháo nhau: Thường hễ bông lúa nếp trắng mà cánh ít th́ giá gạo rẻ, c̣n vụ chiêm lúa nếp cánh đă nhiều lại vàng khè th́ thóc c̣n cao, gạo c̣n kém nữa...

Trên cái đất kinh đô đă không ít cuộc ba đào và binh lửa, hết đánh Nguyên, đuổi Minh, đại phá Thanh lại tử chiến với Phú-lăng-sa và không tặc "Sao và vạch", lại nhớ câu thơ "đất thanh b́nh ba trăm năm trước"! Thời mọi người sống trong cái nếp lăng mạn mà thực tế. Cái ăn, cái mặc, sự tiêu pha, sắm sửa vẫn thúc bách ngay sau lưng mà cuộc mưu sinh vẫn không v́ thế mất đi vẻ mơ mộng, tiêu sái. Nghĩa là trước, trong và sau chiến cuộc lại lo toan dựng vợ gả chồng cho con cái, chôn cất phúng viếng người chết, cúng giỗ ông bà tổ tiên, hương hoa khấn vái ngày sóc ngày vọng. Nông gia vẫn cứ cuốc đất, trồng tỉa lo mùa màng. Đám thương nhân tiếp tục ngược xuôi buôn bán. Chợ búa vẫn cứ họp không sót một phiên. Các phường nghề lại nhộn nhịp hoạt động...

Dân đất băi Nhị Hà và quanh hồ Dâm Đàm lại nhộn nhịp trồng dâu. Cư dân phía tây kinh thành th́ lo tiến sâu vào vùng đầm lầy, cỏ rậm khai phá đất hoang, tiếp tục cái công việc mà một người đồng hương của họ đă khởi xướng gần năm mươi năm trước. Nguyên dưới thời vua Thái Tông, một chàng trai họ Hoàng chuyên chài lưới và bắt rắn ở làng Lệ Mật, có công vớt được xác một nàng công chúa bị chết đuối khi chơi thuyền trên sông Thiên Đức. Nhà vua ban thưởng ǵ chàng cũng không nhận, chỉ xin phép đưa đám dân nghèo của Lệ Mật qua bờ nam sông Cái, khai khẩn mở mang vùng đất hoang vu, viết nên những trang sử đầu tiên cho khu Thập Tam Trại nổi tiếng sau này.

C̣n ở phía bắc sông Tô Lịch, trên những mảnh ruộng quốc khố, nhà nông cũng lo cày sâu cuốc bẫm để mùa gặt dư dả thóc lúa, thừa ăn sau khi đă nộp đủ mức tô vào Kho Giàn, kho của triều đ́nh nằm ngay giữa cánh đồng: ruộng hạng nhất mỗi năm nộp 680 thăng, hạng nh́, 400 và hạng ba, 100...

Ty Binh Bạc, cơ quan chịu trách nhiệm điều hành mọi việc ở kinh đô lại tiếp tục lo nạo vét Tô Lịch sau mỗi mùa nước dâng, phù sa lấp cạn ḍng...

Các làng nghề rải rác khắp các phố phường nhưng tụ hợp đông nhất vẫn là hai khu Đông - Tây kinh thành, lại thi nhau chế tác đồ kim hoàn, dệt lụa, nhuộm vải, đúc đồng, rèn sắt, đồ mỹ nghệ... Nhất là mấy nơi làm gốm sứ tráng men, khắp nơi la liệt đồ đất nung h́nh rồng, phượng, kỳ lân, cầm thú, bên cạnh là những cột đá chạm rồng, từng chồng gạch ngói xếp liền nhau trông mỏi mắt, đủ loại ngói, ngói bản, ngói ống, ngói tráng men và những viên gạch in các niên hiệu từ Long Thụy, Thái B́nh đến Chương Thánh, Gia Khánh... Bên cạnh đó, những xưởng sản xuất của Bách Tác Cục do triều đ́nh lập ra cũng náo nhiệt không kém, chỗ th́ đúc tiền, đóng thuyền, chỗ th́ làm xe cộ, kiệu, lọng, cờ quạt, áo mũ cho vua chí quan...chỗ rèn vơ khí, chỗ làm những cây cung nổi tiếng của Giao Châu gọi là Lư tử, cánh cung dài mấy thước, mũi tên dài hơn thước, đầu bịt đồng, tẩm thuốc độc, bắn trúng ai chết ngay, cọp beo cũng phải sợ...

Mấy cái chợ lớn nhất ở bốn cửa thành lại kẻ mua người bán tấp nập, đặc biệt sầm uất là chợ Đông và chợ Tây. Khách thương đến giao dịch đủ cả người Việt, người Trung Hoa, Ai Lao, Chiêm Thành...Mấy ông chủ tiệm phương bắc vẫn không không quên sắm bốn cái ky bằng tre, cái vật vốn chỉ dùng để xúc rác, bây giờ được treo lên vách nhà chính đường để cầu buôn bán phát tài. Cần mua món hàng nào hầu như có thể t́m thấy ở những cửa tiệm quanh Đông Môn Đ́nh. Thượng vàng hạ cám, có tất. Từ áo tiến sỹ Lan Sam đến quạt Chiếp phiến. Từ các loại Bảo Thạch Vân Nam đủ màu hồng, lục, biếc, tía, ngọc Nha Cốt, ngọc Miêu Tinh để gắn vào trâm gài đầu của các tiểu thư đến các loại chiếu, từ chiếu bằng tre đến chiếu đan bằng dây mây trắng. Từ cây phất trần làm bằng đuôi con hươu cho các nhà sư dùng khi thuyết pháp đến Đao Bút cho các nho sỹ mang theo người, từ Kinh Đại Tạng đến những thỏi mực tầu được làm bằng cách đốt dầu cây tô hạp hương lấy muội khói. Từ các loại chén uống rượu: cái "tước" đựng được một thăng, cái "cô" được hai thăng, cái "giác" bốn thăng, cái "di" đựng ba đấu, cái "anh" sáu đấu, cái "lôi" đựng mười đấu vừa một thạch...đến đồ "Thất bảo" của nhà Phật. Từ các loại hương liệu phương nam đến lụa là gấm vóc Tứ Xuyên, từ sâm Nghệ An đến đồ gốm Tống, từ khánh đá An Hoạch đến những chiếc sênh được làm bằng trái bầu không cuống, cắt ra, ở trên gắn 13 ống sáo để thổi, âm điệu trong trẻo, tao nhă hợp luật lữ...Từ những cỗ bài lá làm bằng những tấm giấy màu gọi là Hồng Hạc hoặc quân cờ Lục Yếm, hai người đánh, mỗi bên có sáu con, bên trắng, bên đen gọi là đánh "Than tiền" mà Đỗ Phủ đă từng chơi và làm thơ:

Ba lăo lái đ̣ vui ḥ hát
Trong sóng dâng cao đánh bạc ngày...

Từ củ nâu mua về nhuộm quần áo đến sừng tê giác làm thuốc, từ vải Lan can mịn màng, văn vẻ như gấm có hoa cây ngô đồng của Ai Lao đến vải mộc miên của người Việt...Thanh toán bằng khá nhiều loại tiền, từ loại "Thái B́nh Hưng Bảo" của nhà Đinh có in chữ Đinh ở lưng, tiền đúc "Thiên Phúc Trấn bảo" thời vua Lê Đại Hành, nhiều nhất vẫn là những đồng tiền "Thuận Thiên Thái Bảo" đúc từ thủa vua Thái Tổ mới dời đô về Thăng Long, lưng tiền để trơn, gờ viền lỗ khá rộng rồi tiền "Minh Đạo Thông Bảo" hoặc "Càn Phù Nguyên Bảo" đúc dưới triều vua Thái Tông. Trả bằng tiền Đường- Tống "Khai Nguyên Thông Bảo", "Càn Phong tuyền bảo" cũng xong...(dân Thăng Long dùng tiền Tống lấy 50 đồng làm một "mạch" (một tiền).

C̣n các bến sông thuyền bè đậu san sát, từ cửa sông Tô, bến Giang Khẩu đến bến Đông Bộ Đầu chếch lên phía bắc chỗ dốc Ḥe Nhai. Đủ cả, có loại thuyền của Đại Việt trông như cánh hoa sen, chế tạo tinh khéo, chắc chắn, tay chèo nai nịt hùng vỹ, cử chỉ tiết độ. Có Mộc Mă thuyền làm bằng cây gỗ chương, từ Quảng Tây xuống, đầu đuôi thấp, ở giữa hơi cao, trên mui có kê cái sàng bằng tre, hai bên kê ván đi lại được, gọi là giang kiều, hoặc Tuyên lâu hoàng khoái thuyền của Giang Nam, sơn vàng có lầu to, kê lầu chia pḥng, khắc vẽ bằng sơn đỏ, có hai cột buồm. Có thuyền bắc xuống, có thuyền nam lên. Lắm thuyền chở đá từ Tràng Kênh, Hải Đông lên cung cấp cho những ḷ nung vôi Thăng Long, th́ ngược lại, có thuyền chở " Sồi Ải, vải Canh, dành Cáo, gạo Ṿng" đặc sản của kinh thành đi tứ xứ...

Hai phía của ḍng Tô Lịch - Nghịch Thuỷ phải chăng cũng là hai phía của Thăng Long?




...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước
Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia
Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia :

_ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ?
Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng
Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
Posted Image
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
« Previous Topic · Quê Hương Tôi · Next Topic »
Add Reply

Theme designed by Lighty of Outline. Theme coded by Pando of GForce and ZNR.