| Welcome to EMVATHO HOME. We hope you enjoy your visit. You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free. Join our community! If you're already a member please log in to your account to access all of our features: |
| Giai Thoại Làng Văn; Sưu Tầm. | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jun 19 2006, 08:20 PM (811 Views) | |
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:04 AM Post #41 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Một cũng đủ rồi Phan Bội Châu (1867 - 1940) hồi c̣n trai trẻ, có lần sang làng Xuân Hồ hát ví phường vải bị bên gái hỏi như sau: Sách rằng Nghiêu hữu cửu nam, Biết Đan Chu là một, hỏi tám chàng tên chi? Phan ṿ đầu ṿ tai măi mà không biết trả lời ra sao; v́ khi học Bắc sử chỉ thấy sách chép rằng vua Nghiêu có chín con trai, người đầu là Đan Chu, chứ tám người kia có thấy ghi tên đâu. Sau bí quá, Phan đành phải t́m cách đánh trống lảng vậy; bèn láu lỉnh vặn lại rằng: Các em là phận nữ nhi, Một Đan Chu cũng đủ, hỏi mần chi những tám người? Thế là Phan đă chuyển bại thành thắng, chẳng những gỡ được thế bí mà c̣n quay lại tấn công nữa, làm cho cô nào cô nấy thẹn chín người. Và rồi lại đến lượt chính các cô đâm ra lúng túng không t́m được câu trả lờị.. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:05 AM Post #42 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Quan Bảng... học chữ Sinh thời Lê Quư Đôn (1726 - 1784) nổi tiếng là người thông thái, đọc và hiểu không biết bao nhiêu sách vở thời bấy giờ. Ông thi đỗ Khôi nguyên. Lẽ thường, tuổi trẻ thông minh đĩnh ngộ, đỗ đạt sớm thường hay mắc tính kiêu ngạo. Thời trẻ, Lê Quư Đôn cũng không tránh khỏi điều ấy. Chuyện kể, sau khi thi đỗ, ông liền cho treo ngay trước ngơ tấm biển với hàng chữ: "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn" (Nghĩa là: Ai không hiểu chữ ǵ th́ hăy đến mà hỏi). Lần thân phụ ông qua đời, người đến viếng rất đông. Trong số đó có một cụ già mà Lê Quư Đôn không quen. Cụ tự giới thiệu lai lịch: Cháu c̣n nhỏ, chứ lăo là bạn thân với cha cháu từ xưa. Nhưng v́ nhà nghèo, đường xa, lại tuổi già sức yếu nên ít đi lại thăm hỏi nhau. Nay nghe tin cha cháu mất, lăo đến để có câu đối viếng. Lăo run tay, cháu hăy lấy giấy bút, lăo đọc, nhờ cháu viết hộ. Lê Quư Đôn lấy giấy bút. Cụ bèn đọc: "chi". Ông Đôn không biết nên viết chữ "chi" nào bởi trong tiếng Hán có nhiều chữ "chi" viết khác nhau. Ông đành cầm bút chờ cụ già đọc tiếp xem sao. Cụ lại đọc "chi". Lê Quư Đôn thấy lạ, liền hỏi: - Bẩm, "chi" nào ạ? Cụ thở than rằng: - Đến chữ "chi" cũng không biết viết, thế mà treo bảng ngoài ngơ để cho người đến hỏi, th́ sao trả lời được kia chứ? Lê Quư Đôn ngượng chín cả người. Bây giờ cụ già mới đọc luôn hai vế đối: "Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kiên thượng tại Tại tại số thiên lư ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chỉ" (Nghĩa là: Cách hơn ba chục năm, xích huyện hồng châu nay vẫn đó. Xa ngoài mấy ngàn dặm, đào hoa lưu thủy bác về đâủ). Thấy câu đối hay, lạ, Lê Quư Đôn và cả các nho sĩ đến viếng đều kinh ngạc. C̣n ông già th́ phủ phục trước linh cữu mà khóc rằng: "Ới anh ơi, anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng Nhăn mà chưa biết chữ "chi" anh ơi". Lạy xong, cụ già chống gậy ra về. Lê Quư Đôn mời măi nhưng cụ không chịu nán lại. Bởi thế nên sau này không ai biết ông cụ hay chữ đó tên là ǵ. Giai thoại c̣n kể rằng, một lần Lê Quư Đôn đến cầu siêu ở ngôi chùa làng. Nhà sư thấy ông th́ mừng rỡ mà rằng: - Quan Bảng vừa tới, may mắn sao. Bần tăng có điều muốn nhờ quan chỉ giáo. Chả là đứa tiểu đồng của bần tăng nghe người nào đó đó, về hỏi, nhưng bần tăng nghĩ không ra, nên đành theo lời quan bảng dạy "Nghi nhất tự lai vấn". Câu đố thế này, xin quan chỉ cho: "Hạ bất khả hạ. Thượng bất khả thượng. Chỉ nghi tại hạ. Bất khả tại thượng". (Nghĩa là: Dưới không thể dưới. Trên không thể trên. Đúng nên ở dưới. Không thể ở trên). Lê Quư Đôn nghĩ măi không ra. Đúng lúc ấy chú tiểu chạy từ ngoài vào thưa với sư phụ là cậu đă giải được. Lê Quư Đôn giục chú tiểu nói thử xem, th́ mới hay đó là chữ "nhất" (một). Đúng là trong chữ "hạ" (dưới), th́ chữ "nhất" ở trên chứ không thể viết dưới. Trong chữ "thượng" th́ chữ "nhất" nằm dưới và chữ "bất", chữ "khả" th́ chữ "nhất" lại ngồi trên. Lê Quư Đôn biết nhà sư đă lấy ngay chữ "Nhất tự lai vấn" ông treo trước ngơ để nhạo. Ông tự nhủ th́ ra thiên hạ c̣n nhiều người giỏi hơn ḿnh liền về nhà sai người cất tấm bảng. Từ đó ông bỏ tính kiêu ngạo, chăm chú nghiên cứu, học hành, giúp đời, trở thành một ông quan đa năng, một thiên tài khoa học lớn nhất Việt Nam thời phong kiến. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:06 AM Post #43 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Run như cầy Quan lớn, được bổ về một địa phương, dự tính một cuộc ra mắt dân chúng. Ngài thông sức xuống các làng để cho nơi nơi phải dọn đường sạch sẽ đón quan trên. Lư trưởng chấp hành nghiêm lệnh, bắt dân chúng ai cũng phải ra lao dịch. Riêng có một anh học tṛ nghèo cứ nhất định không đi. Đúng hôm quan tới nơi, lư trưởng bắt anh ta ra đ́nh để tŕnh quan về một tên dân ngỗ ngược. Quan gọi anh ta đến quát: - Mày là hạng ǵ mà dám kháng lệnh hương lư không đi dọn đường? Anh kia đáp: - Bẩm quan lớn, tôi là học tṛ, là kẻ sĩ. Sĩ là đáng trọng nên tôi không đi. Quan đập bàn mắng át: - Trọng, trọng ǵ? Chẳng qua là anh lười nhác, thấy gọi đến tên th́ trốn tránh chứ trọng với khinh ǵ? Được, đă nhận là học tṛ, là kẻ sĩ th́ để ta xem tài học ra thế nào? Ta ra cho một vế đối, không đối được sẽ có đ̣n. Quan đọc câu đối bắt phải đối ngay: - Chàng màng, chàng màng, thấy dọn đàng th́ lủi như cuốc. Anh học tṛ không cần nghĩ ngợi, đối ngay: - Hục hặc, hục hặc, nghe tin giặc đă run như cầy. Câu đối sắc sảo làm sao! Nhưng câu đối không ngờ lại chạm nọc quan! Có người biết rằng vị quan này một dạo đă tỏ ra nhút nhát khi xảy ra loạn lạc, nên mới cậy cục xin về quanh vùng Kinh Bắc, Kinh đô cho được an toàn. Câu đối vô t́nh đă xoáy vào nhược điểm ấy. Quan lớn đành chỉ nói vài câu qua quưt để tống anh học tṛ đi cho đỡ ngượng. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:07 AM Post #44 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Thợ vẽ đề thơ Một viên đại thần có tiếng là ác, thuê một người thợ vẽ, vẽ bức chân dung. Bức vẽ rất công phu, tượng người chững chạc, có vẻ uy nghi. Quan rất hài ḷng và tỏ ư nếu có thơ đề nữa th́ quư lắm. Họa sĩ cũng biết làm thơ, chữ viết lại đẹp, bằng ḷng nhận lời yêu cầu của chủ nhân. Suy nghĩ một lát, họa sĩ cầm bút viết bốn chữ, vừa viết vừa nghĩ, viết từ phải sang trái: Chân lăo cầm thú! Nghĩa của bốn chữ này là: Thực đồ cầm thú già! Chửi bới thậm tệ ngay trên giấy trắng, lại dưới bức chân dung như vậy th́ thật tai ác và hỗn xược. Quan đại thần tức giận, thét lính nọc cổ ra đánh. Người thợ vẽ ung dung nói: - Bẩm quan, tôi mới nghĩ được mấy chữ đầu câu th́ ghi cho khỏi quên, chứ đă xong đâu. - Nếu vậy th́ viết tiếp đi. Anh thợ vẽ c̣n chần chừ một lát, rồi viết thêm dưới mỗi chữ trước hai chữ nữa: Chân tể tướng Lăo trung thành Cầm chi phượng Thú chi lân Thế này th́ hay nhất. Ngài đích thị là vị tể tướng chân chính, là bậc trung thành già, là phượng trong loài chim, là lân trong loài thú. Quan đại thần trở nên vui vẻ, thưởng tiền cho anh họa sĩ và treo bức chân dung lên. Có điều đọc thành bài th́ thế, nhưng theo lối chữ Hán, đọc mấy chữ trên cùng từ phải sang trái th́ bốn chữ "chân lăo cầm thú" vẫn rành rành ra đó. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:08 AM Post #45 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Tiến sĩ ăn đ̣n Nguyễn Công Hoàn sinh khoảng năm Canh Thân (1680) quán làng Cổ Đô, phủ Quảng Oai, Sơn Tây. Ông là người học vấn uyên thâm nhưng tính khí nóng nảy bộc trực lại có lối hành văn quá uẩn súc nên thi măi không đỗ. Con trai là Nguyễn Bá Lân được ông rèn cặp bút nghiên từ nhỏ. Lớn lên, mấy lần cùng cha đi thi. Đêm đêm hai bố con ngồi học chung. Ông để sẵn cây roi, bảo: - Hễ ai ngủ gật người kia cứ việc vụt. Một đêm ông mệt quá, gục xuống thiếp đi. Bá Lân khẽ lay bố dậy. Ông vớ roi vừa đánh vừa mắng: - Mày không đánh, cốt để tao học dốt ḥng hại tao chứ ǵ? Khi tập văn ông giao hẹn với con: - Bài ai hơn được ăn cơm, kém cho nhịn. Khi biết văn ḿnh không bằng con, ông nhịn thật. Biết tính ông như vậy, không ai dám mời. Một hôm cha con trên bến chờ đ̣. Thấy đàn dê đang gặm cỏ, ông bảo: - Tao với mày làm bài phú, lấy đề "Dịch đ́nh dương xa" (Xe dê vào cung), ai làm chậm sẽ bị đẩy xuống sông. Bá Lân làm xong trước, không nỡ đẩy bố xuống sông. Nhưng chính ông bố nhảy tùm xuống nước. Bá Lân hốt hoảng lao theo, khóc lóc vớt lên. Khoa Tân Hợi (1731) Vĩnh Khánh III, đời Lê Duy Phường, Nguyễn Bá Lân đỗ đầu Tiến sĩ. Công Hoàn bị đánh trượt. Hôm ăn khao, ông cười với quan khách rồi nói: - Thằng Lân nhà này đỗ thủ khoa th́ ra thiên hạ hết người tài. Khoa sau ông lại lều chơng đi thi. Tiến sĩ Bá Lân đứng chân giám khảo. Chấm thi xong, Lân về nhà ngồi hầu cơm, ông hỏi ḍ: - Khoa này có quyển nào khá không? Bá Lân buông đũa, khoanh tay lễ phép thưa: - Dạ thưa thày, có quyển khá, nhưng câu tứ lục thất luật nên không lấy đỗ được. Ông nôn nóng hỏi: - Câu ấy thế nào? - Bẩm con xin đọc thày nghe: "Lưu hành chi hóa tự Tây Đông, Nam Bắc vô tư bất bặc. Thành tựu chi công do Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng". Ông điên tiết xô đổ mâm cơm, vớ roi vụt lia lịa người Lân, quát mắng: - Mày dốt như thế mà làm giám khảo, rơ là chôn sống bao nhiêu sĩ tử! Th́ ra hai câu ấy trong quyển của ông nguyên là: "Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất bặc. Thành tựu chi công do Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng". Nghĩa: "Đức hóa lưu hành tự Phương Tây, rồi Đông Nam Bắc không đâu không phục. Công gây dựng do nơi xứ Cảo, để Mân Kỳ Phong đều cùng dấy theo". Ông quắc mắc bảo Bá Lân: - Mày được tiếng đỗ cao nhưng chưa thông hiểu nghĩa sách, phải ngắt câu như thế. Bởi nhà Chu khởi nghiệp ở hướng Tây, buổi đầu đóng đô vùng đất Cảo. Sao mày tối tăm thế? Từ đó ông không màng đến cử nghiệp, lấy cày ruộng đọc sách làm vui. C̣n Bá Lân, sau làm đến Thượng thư, tước Hầu. Biết ḿnh cao khoa hiển vinh là nhờ ơn bố, ông luôn xót xa cho phụ thân là người tài ba thông tuệ nhưng chẳng gặp may. Nguyễn Công Hoàn mất năm nào, ở đâu chưa rơ. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:08 AM Post #46 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Vả bây giờ... Ở vùng nọ có một cô gái đẹp mà có tài ăn nói, mở một quán nước bên đường để kén chồng. Các cậu cống anh đồ nghe tin kéo đến rất đông. Chàng nào cũng hăm hở tưởng mười mươi là chiếm được người đẹp; nhưng khi đến hăm hở chừng nào th́ khi về lại tiu nghỉu chừng nấy, v́ chưa có ai địch lại được mồm mép chua ngoa đáo để của cô gái. Nhưng rồi vỏ quưt dày th́ có móng tay nhọn. Một hôm, có một nho sinh nọ, chẳng biết là định đến thử tài hay là t́nh cờ qua đường vào quán nghỉ chân. Cô gái quen như mọi bận, lại giở cái giọng "đàn chị" ra để trêu chọc, nhưng tḥ ra câu nào đều bị anh chàng đập lại chan chát, thành ra cô ta đă có phần nao núng. Cuối cùng, cô ta bèn đọc một câu: Khen cho con... mắt tinh đời! Anh hùng đoán giữa trần ai mới già. Khi đọc cô nhấn mạnh ba tiếng khen cho con, nghỉ một tí rồi mới đọc nốt ba tiếng sau thành câu thơ có nghĩa: "Bà khen cho con đấy con ạ! V́ con cũng có cặp mắt tinh đời đấy". Nho sinh vốn là một thanh niên nhanh trí, thấy cô gái nhấn mạnh ba tiếng khen cho con th́ đă hiểu ngay cái ư xỏ xiên của cô ta, anh ta bèn "tương kế tựu kế", đọc ngay một câu trong Truyện Kiều như sau: Vả bây giờ... mới thấy đây, Mà ḷng đă chắc những ngày một hai Nhưng lúc đọc anh ta dằn mạnh ba tiếng vả bây giờ, cũng nghỉ một tí mới đọc tiếp ba tiếng sau, thành thử câu thơ lại có nghĩa là: "Cô nói hỗn với tôi th́ tôi vả cho bây giờ, để cho cô thấy tôi đây là người như thế nàỏ". Cô gái là người tinh tế, thấy nho sinh nọ trả lời ḿnh cũng bằng một câu Kiều với ư nghĩa hóm hỉnh như vậy th́ vừa phục vừa thẹn, mặt đỏ au lên, và lặng thinh ngồi mân mê tà áo chẳng biết trả lời ra sao nữạ |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:09 AM Post #47 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Vịnh cây vông Ra làm quan, Nguyễn Công Trứ (1778-1858) rất bực ḿnh, khó chịu với những kẻ bất tài mà ăn trên ngồi trốc, chỉ biết một mục đích là vinh thân ph́ gia. Ông cũng ghét độc những thói xu nịnh, đạo đức giả. Một lần, trong triều có viên quan đại thần mở tiệc mừng con thi đỗ cử nhân. Tiệc đông đủ quan khách, và cả những văn nhân tài tử. T́nh cờ trước sân nhà viên quan, có một cây vông trổ hoa. Có người nêu ư là làm thơ vịnh cây vông cho vui. Nêu như vậy là dụng tâm tán tụng chủ nhân. Cây trổ hoa th́ khác ǵ người thi đỗ. Trời đă ban lộc, ban phúc cho quan đại thần. Họ ép Nguyễn Công Trứ làm theo đầu đề ấy. Ông không từ chối mà ứng khẩu ngay: Biền, nam, khởi tử (*) chẳng vun trồng Cao lớn làm chi những thứ vông Tuổi tác càng già, già xốp xáp Ruột gan không thấy thấy gai chông Ra tài lương đống không nên mặt Dựa chốn phiên ly chút đỡ ḷng Đă biết ṇi nào th́ giống nấy Khen cho rứa cũng trổ ra bông! Bài thơ như tát vào mặt chủ nhân. Quan đại thần tím mặt không biết xử trí thế nào. Quan khách ngồi quanh đó cũng sượng sùng. Không khí trở nên nặng nề căng thẳng. Một bạn đồng liêu của Nguyễn Công Trứ là Hà Tông Quyền vội chuyển câu chuyện để hầu cứu văn t́nh h́nh. Ông Quyền bảo với ông Trứ: - Thơ ngài hay lắm, chúng tôi không dám họa theo nữa. Chỉ có câu đối này, xin được ngài chỉ giáo cho. Ông Quyền đọc luôn: Quân tử ố kỳ văn chi... quư ngàị Nguyên câu là chữ liền trong sách: "Quân tử ố kỳ văn chi trứ", nghĩa là người quân tử không ưa sự ḷe loẹt. Ông Quyền vờ kiêng tên, không đọc chữ "trứ", thay bằng chữ quư ngài. Câu đối hóa ra mang một nghĩa khác: người quân tử không thể nào ưa anh Trứ! Ông Trứ thấy Hà Tông Quyền đỡ đ̣n cho chủ nhân mà lại chế giễu ḿnh, lập tức quay mũi tấn công. Ông đối lại ngay: - Thưa tôi xin đối là: Thánh nhân bất đắc dĩ dụng... quan lớn. Câu đối cũng chữ liền trong sách. Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền, nghĩa là bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng cách quyền biến. Nhưng ông Trứ cũng theo lối đặt câu của đối phương, làm cho lời đối của ông có nghĩa: người trên bất đắc dĩ lắm mới phải dùng đến... thằng Quyền! Cũng như chủ nhân, ông Quyền tái mặt đi v́ lời bốp chát quá đau. Nhưng chẳng có cách ǵ, chỉ một mực xa xẩn cười trừ rồi... cáo thoái. ---------------------------- * Những giống cây quư |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:10 AM Post #48 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Vịnh tranh Tố Nữ Phạm Thái c̣n có tên là Phạm Phượng Sinh, quê ở làng Yên Thường, huyện Đông Ngàn (nay là Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông sinh năm 1777, mất năm 1813, có tài làm thơ nôm và nổi tiếng về thơ t́nh yêu. Cha Phạm Thái làm quan dưới triều Lê, sau khởi binh chống lại nhà Tây Sơn, rồi bị hại. Sau khi cha chết, Phạm Thái nối chí cha, mưu chống lại nhà Tây Sơn, nhưng bị truy nă gắt gao, phải trá h́nh đi tu ở chùa Tiêu Sơn, lấy đạo hiệu Phổ Chiếu thiền sư. Ông có người bạn là Trương Đăng Thụ đang làm quan ở Lạng Sơn cho đón ông Thái lên để cùng lo việc pḥ Lê. Chẳng may ít lâu sau ông Thụ mất. Ông Thái phải đưa linh cữu bạn về quê ở xă Thanh Nê, huyện ư Yên, Nam Định, rồi lưu lại luôn ở đó. Thân sinh ông Thụ là Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quỹ rất mến Phạm Thái, thường vẫn hay đàm đạo về thời thế và thơ văn với ông Thái. Một hôm Phạm Thái ngồi uống rượu với Kiến Xuyên hầu, hầu trông vào bức tranh tố nữ bảo ông thử uống cạn mười chén, vịnh thơ một bài. Phạm Thái vâng mệnh, cất bút thảo luôn một thiên Đường luật theo cách "thuận nghịch độc" (đọc xuôi là thơ chữ Hán; đọc ngược lại là thơ nôm diễn đạt ư bài thơ chữ Hán) đưa tŕnh. Thơ như sau: Bài đọc xuôi: Thanh xuân tỏa liễu lănh tiêu pḥng, Cẩm trục đ́nh châm ngại điểm trang. Thanh rạng độ tiên ph́ phất lục, Đạm hy tán cúc thái sơ hoàng. T́nh si dị tố liêm biên nguyệt, Mộng xúc tằng liêu trường đỉnh sương. Tranh khúc cưỡng khêu sầu mối bận, Oanh ca nhặt vĩnh các tiêu hương. Bài đọc ngược: Hương tiêu gắc vắng nhặt ca oanh, (1) Bận mối sầu khêu (2) gượng khúc tranh. Sương đỉnh trướng gieo từng giục mộng, Nguyệt bên rèm, tỏ dễ si t́nh. Nắng thưa thớt, cúc tan hơi dạm, Lục phất phơ, sen đọ rạng thanh. Trang điểm ngại chăm dừng trục gấm, (3) Pḥng tiêu lạnh lẽo khóa xuân xanh. (4) Hầu xem xong thích lắm, khen là "thanh quan thắng tuyệt" (trong sáng tuyệt vời). Từ đấy hầu có ư muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho Phạm Thái. V́ cũng biết là hai người đă yêu nhau. Nhưng bà mẹ Quỳnh Như không bằng ḷng. Sau Quỳnh Như bị ép gả cho một người khác, nàng liền tự tử. Từ đấy Phạm Thái buồn bă, chán nản, đi lang thang đây đó, uống rượu làm thơ, tự xưng là Chiêu Lỳ. ----------------------- (1) Nhặt ca oanh: Tiếng chim oanh hót luôn luôn. (2) Sầu khêu: Nỗi buồn khêu gợi ḷng. Gượng khúc tranh: Gượng đánh khúc đàn tranh. (3) Dừng trục gấm: Dừng việc dệt gấm. (4) Khóa xuân xanh: Nhốt người con gái trẻ. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 09:12 AM Post #49 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Xem cái rổ kia ḱa Anh chàng nọ được nhà láng giềng đồng ư gả con gái cho, nhưng ông nhạc c̣n muốn thử thách vài lần nữa, để xem cái tài học hành của anh ra sao. Thực ra th́ anh cũng vào loại chăm chỉ thôi, chứ cái tài hoa, mẫn tiệp th́ anh thiếu hẳn. Thế mà ngày mai đây, đă phải đến ứng đối ở nhà ông bố vợ tương lai rồi. Ông già này hẹn tổ chức một bữa tiệc mời các thầy nho sĩ quanh thành Thăng Long đến dự, để nhân tiện giới thiệu và cũng kiểm tra luôn chàng rể thí sinh này. Chàng trai t́m đến cậu Lượng, nhờ cậu nghĩ hộ cách đối phó thế nào cho qua phút thử thách. Cậu Lượng cười: - Thôi, bác đừng lo nghĩ quá. Hôm ấy đi với bác, có ǵ tôi sẽ "gà" cho. - "Gà" thế nào được? Ngay giữa đám đông, mười mắt trông vào như thế th́ gà làm sao cho khỏi lộ. Có khi bác làm cho tôi ḷi cái dốt ra. - Bậy, ai lại thế. Tôi dặn bác điều này. Nếu ông già có giở chữ nghĩa ǵ th́ bác cứ trả lời lơ lửng rồi tôi sẽ pha thêm cho. Nhớ là nói rất ít, nói một hai chữ thôi cũng được. Anh bạn tuy thuận theo mẹo mực này, nhưng vẫn cứ lo lắng, thấp thỏm. Quả nhiên, hôm đến dự tiệc, ông nhạc tương lai của anh đọc một câu đối. Ông nói với mọi người: - Câu đối dân gian thôi ạ! Nhưng tôi nghĩ măi không ra. Nhân được các thầy quá bộ đến chơi, xin nhờ tài văn chương của các thầy. Nói là nhờ thầy, song ông lại đưa mảnh giấy viết về câu đối cho chàng rể tương lai. Rơ ràng ông ta có ư bắt anh đối cho mọi người đều nghe. Câu đối viết: Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt. Quả là dân gian, mà lại cũng oái oăm. Đă giậu lại rào, đă mèo lại cáo. Mắt cáo cũng có hai nghĩa: mắt con cáo, và h́nh dáng cách thức tấm phên. Anh em nho sĩ nh́n vào vế đối, lẩm nhẩm rồi cũng lắc đầu cảm thấy khó. Chàng rể dự bị kia càng hoang mang hơn. Cậu Lượng ngồi bên cạnh nói nhỏ: - Ông ấy ra cái dậu đấy, đối đi thôi! Đối đi! Nhưng đối cái ǵ mới được chứ. Nh́n quanh nh́n quẩn, chợt thấy cái rổ thủng úp bên gốc cây ngoài vườn, anh ta nói liều: - Xem cái rổ kia ḱa! Cả đám tiệc thiếu cái ḅ ra mà cười. Anh chàng này nói năng, đối đáp ǵ mà cù nhầy như vậy. Ông cụ cũng ngạc nhiên, nh́n trân trân vào anh ta. Cậu Lượng, trái lại gật gù và thốt lên: - Hay quá! Một anh khác hỏi ngay: - Bác thấy hay chỗ nào? Đại huynh đây có đối đáp ǵ đâu mà bảo là hay? Cậu Lượng đứng dậy: - Xin phép cụ và xin phép chư hiền. Tôi thấy hay thực. Anh bạn tôi vốn tính khiêm nhường ít nói, nhưng đă nói là sâu sắc, tài t́nh. Cùng học với nhau, tôi biết tính anh nên mới hiểu được cái tài xuất sắc của anh. Dạ thưa cụ, như cụ ra về cái giậu, mà bạn tôi lại đối lại bằng cái rổ th́ thật là thâm thúy giỏi giang. Dạ, giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt, th́ cái rổ bị rách một chỗ như thế kia, chẳng thành ra: "Rổ nứt ḷng tôm, tép nhảy qua". C̣n ǵ hay hơn nữa! Tất nhiên cả đám cũng đều phải công nhận là tuyệt tác. Buổi tiệc vui hẳn lên, ông cụ cũng thỏa măn v́ kiếm được rể hay chữ, xứng đôi với con gái ḿnh. Đám cưới không bao lâu được tổ chức và cậu Lượng cố nhiên được đền ơn xứng đáng. Cậu Lượng ấy là người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm (Hà Nội) thuộc ḍng họ Nguyễn Huy, vốn nổi tiếng thần đồng. Lớn lên thi đỗ hương cống, được làm quan với triều Lê, sau theo giúp Tây Sơn, đồng thời với các ông Ngô Th́ Nhậm, Phan Huy ích. Năm 1805, giữ chức hữu thị lang bộ Hội, đă làm bài Tụng tây hồ phú để ca ngợi đất nước, ca ngợi Thăng Long thịnh cường rực rỡ dưới triều Tây Sơn. Cho đến nay, giá trị văn chương của bài phú Tây Hồ này vẫn được đánh giá cao, và cùng tồn tại với tác giả của nó: Chương lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 05:15 PM Post #50 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Giai Thoại & Điển Tích Vắng Như Chùa Bà Đanh Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội. V́ để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê. Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, c̣n chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (v́ hầu hết những người này đều theo đạo Phật). Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đă chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, v́ thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm. Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn c̣n giữ lại được tấm bia ghi rơ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đă có công dựng lên chùa này, v́ thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị băi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đi. Chính v́ thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này: Dấu bố cái rêu in nền phủ Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùa. Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đă trở thành một h́nh ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nào. "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con người. Ca dao Hà Nội có câu: C̣n duyên kẻ đón người đưa Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| kimcuongbien | Jul 7 2006, 05:18 PM Post #51 |
![]()
Giải IV Hội Thi EVT 2007
|
Thằng Mơ Trong Đời Sống Làng Việt Xưa -------------------------------------------------- Sự ra đời của nghề rao mơ Hiện nay, chưa t́m được một tư liệu thành văn nào có tính chất hành chính quốc gia, là lệnh chỉ của vua chúa về việc các làng xă phải có mơ, quy định về chức phận và phạm vi hoạt động của mơ làng. Cũng không có một truyền thuyết hoặc giai thoại nào nói về sự ra đời của nghề rao mơ. Gần đây, trên tạp chí Xưa và nay số 2 (12) tháng 2-1995, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sự và Nguyễn Xuân Diện cho rằng: "Có hai tư liệu rất quan trọng giúp "xác định niên đại" của nhân vật này là: Hồng Đức Quốc Âm thi tập và vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập (ở phần phụ lục) có bài Thằng mơ... Mẹ Đốp trong chèo cổ Quan Âm Thị Kính là một vợ mơ, mà vở chèo này ra đời vào thế kỷ 15 là điều đă được khẳng định từ lâu. Hai tư liêu này cho phép khẳng định nhân vật mơ ra đời trước khi nó được đưa vào văn học rất lâu. V́ rằng, nhân vật mơ ở đây không c̣n là kết quả của phản ánh b́nh thường, mà nó đă trở thành một ấn tượng đă quá quen thuộc và đáng ca ngợi (đó cũng là cảm hứng chủ đạo của tác giả khi viết bài thơ Thằng mơ... trong Hồng Đức Quốc âm thi tập). Và hơn thế nữa, h́nh tượng thằng mơ c̣n được quần chúng lựa chọn để bày tỏ, gửi gắm khát vọng tự do của ḿnh (chèo cổ Quan Âm Thị Kính). Có thể nói nhân vật mơ gắn liền với cái đ́nh làng". Qua khảo sát bước đầu, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các làng Việt ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, trừ những làng mới thành lập hoặc quá nghèo, đều từng có người rao mơ. Tuy vậy, có một điểm chung nhất, tất cả họ đều là dân ngụ cư. Phải chăng đó là do quan niệm về nghề nghiệp của người xưa? Bởi lẽ, tập thể dân làng, trước tiên, loại trừ khỏi ḷng nó tất cả những ai là dân ngụ cư. Xưa kia, muốn trở thành dân "chính cư", người ngụ cư phải thỏa măn ít nhất hai điều kiện: đă cư trú trong làng được ba đời và có chút ít điền sản. Điều kiện thứ hai có thể chỉ là đặc điểm của một xă hội tiểu nông, trong đó quyền tư hữu đối với một mảnh đất canh tác nho nhỏ đă trở thành tiêu chuẩn làm người. C̣n điều kiện thứ nhất, phải chăng, đấy lại là bản năng tự vệ của từng cộng đồng trồng trọt sống trên địa bàn hạn hẹp, luôn luôn phải đương đầu với áp lực dân số và t́nh trạng thiếu hụt đất canh tác? Dù sao đi nữa, trong làng, người đến ngụ cư phải gánh một thân phận thấp kém, bị dân làng khinh miệt, chỉ được dựng nhà ở ŕa làng, không được vào giáp, không được tham gia mọi công việc tại đ́nh, không được hưởng quyền lợi ruộng công, thường sống bằng nghề làm thuê, rao mơ... Thời điểm nghề mơ ra đời cùng đặc trưng của nó cho phép khẳng định, tổ chức làng xă lúc đó đă đạt được một sự ổn định nhất định về cơ cấu. Và, mơ cũng chỉ có ở cấp làng chứ không có mơ xóm, mơ tổng hay huyện, phủ, tỉnh... Nhiệm vụ, vị trí của người rao mơ Người rao mơ thường bị khinh miệt gọi là "thằng mơ", có vai tṛ quan trọng trong thông tin bằng miệng của xă hội Việt Nam qua nhiều thế kỷ, khi các phương tiện thông tin đại chúng chưa phát triển. Cầm cái mơ làm bằng gộc tre khô và cái dùi tre trong tay, người rao mơ đánh một hồi cho mọi người chú ư lắng nghe rồi dơng dạc cất tiếng "rao" cho cả xóm, cả làng biết tin tức hoặc mệnh lệnh mà nhà chức trách muốn thông báo. Thí dụ, khi muốn thông báo cho dân làng biết lệnh cấm thả trâu làm hại đồng lúa, lư trưởng sai "thằng mơ" đi từ đầu làng đến cuối làng, rao câu sau đây: Lẳng lặng mà nghe Cấm trâu ăn kẹ, Cấm nghé băng đường, Cấm ruộng, cấm mương Nhược bằng ai cố ư không nghe Quan viên th́ bắt vạ Dân đinh th́ phạt đ̣n... Nhờ người rao mơ mà dân làng không những biết mệnh lệnh của lư trưởng mà c̣n biết chiếu chỉ của vua, không những biết tin tức trong làng mà c̣n biết tin tức trong nước. Người rao mơ là "chân rết" của hệ thống thông tin của triều đ́nh, là nhân viên thông tin nửa chuyên nghiệp trong xă hội Việt Nam ngày trước. Khác với gia nô, tá điền - những người làm cho một ông chủ hoặc vài ông chủ nhất định, mơ không phải là của riêng ai, mà của cả làng, gánh trách nhiệm mà cả làng giao phó. Mơ là người lao động, nhưng lao động của mơ là lao động "dịch vụ" chứ không phải lao động sản xuất. Do vậy mơ không liên quan nhiều và trực tiếp tới vấn đề ruộng đất và công cụ lao động. Mơ không phải chỉ phục vụ cho lư trưởng và chức dịch trong làng xă, mà cho cả cộng đồng. Khi làng vào đám, cả gia đ́nh nhà mơ được huy động ra "việc làng". Khi chia phần, dân làng chia cho mơ một cỗ riêng, nếu ăn không hết th́ mang về. Mơ đứng ngoài các cuộc tranh chấp giữa các phe, giáp trong làng xă. Lư trưởng này đổ, lư trưởng khác sẽ thay thế, nhưng vẫn cần đến mơ và không v́ thế mà thay mơ. Do "gần gũi" các chức dịch, mơ biết rơ nội dung của các cuộc tranh giành giữa các cá nhân hay ḍng họ, nhưng mơ không ủng hộ một cá nhân hay phe cánh nào. Mơ không có hành vi tiêu cực trong đời sống cộng đồng. Người làm mơ bị dân làng khinh rẻ, xa lánh, nhưng không ai căm ghét như là đối với bọn trộm cắp, lưu manh và cũng không ai muốn quan hệ với họ. Con cái mơ không được phép đi học, khi lớn lên cũng chỉ được lấy vợ, lấy chồng con nhà mơ. Vô h́nh trung, nghề mơ trở thành cha truyền con nối. Nghề mơ và người làm mơ có lẽ là sản phẩm đặc thù của làng xă người Việt, chủ yếu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nghiên cứu nghề mơ chắc chắn sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề về cơ cấu tổ chức, sự vận hành và đời sống của làng Việt nói chung. |
|
...........Giảng đường ngày tháng con ung dung bước Mẹ vất vả nhiều nào được sẻ chia Mỗi lần về thăm mẹ miệng con cứ tía lia : _ Cứ thắc mắc: - Sao tay mẹ bên đen bên trắng ? Con đau ḷng nhận ra từ phía nắng Sao luôn là _ phía mẹ : - Mẹ ơi !!............................
| |
![]() |
|
| « Previous Topic · Văn Học & Cuộc Sống · Next Topic » |









2:18 AM Jul 12